Vận dụng phương pháp tổ chức trò chơi và kĩ thuật sơ đồ tư duy để góp phần nâng cao hứng thú, hiệu quả trong việc giảng dạy môn Ngữ văn lớp 7

docx16 trang | Chia sẻ: KA KA | Ngày: 20/01/2026 | Lượt xem: 1 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Vận dụng phương pháp tổ chức trò chơi và kĩ thuật sơ đồ tư duy để góp phần nâng cao hứng thú, hiệu quả trong việc giảng dạy môn Ngữ văn lớp 7, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc THUYẾT MINH MÔ TẢ GIẢI PHÁP 1. Tên giải pháp: VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC TRÒ CHƠI VÀ KỸ THUẬT SƠ ĐỒ TƯ DUY ĐỂ GÓP PHẦN NÂNG CAO HỨNG THÚ, HIỆU QUẢ TRONG VIỆC GIẢNG DẠY MÔN NGỮ VĂN LỚP 7 2. Ngày giải pháp được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: Năm học 2020 - 2021. 3. Các thông tin cần bảo mật (nếu có): Không. 4. Mô tả giải pháp cũ thường làm: - Mô tả giải pháp thường làm: Trước đây tôi thường làm theo phương pháp dạy học truyền thống như phương pháp thuyết trình, phương pháp đàm thoại, lấy sách giáo khoa làm tài liệu chính, ... - Nhược điểm, hạn chế của giải pháp cũ: Học sinh dễ tiếp thu kiến thức một cách thụ động, giờ học cũng buồn tẻ và kiến thức chỉ thiên về lý thuyết. Bởi vì không có nhiều cơ hội thực hành, nên học sinh khó có thể áp dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn. - Qua thực tế khảo sát, tôi nhận thấy rằng: tỉ lệ học sinh say mê, hứng thú học tập trong giờ học Ngữ văn chưa cao: Lớp Tổng số Chưa say mê, hứng Say mê, hứng thú HS Bình thường thú trong giờ học học tập trong giờ SL Tỉ lệ % SL Tỉ lệ % SL Tỉ lệ % 7A, 7B, 104 10 50 48,7 44 41,7 7C 9,6 5. Sự cần thiết phải áp dụng giải pháp Năm học 2020 - 2021 tôi được nhà trường phân công giảng dạy môn Ngữ văn 7 với tổng số 104 học sinh. Qua quá trình lên lớp, tôi nhận thấy nhiều em chưa có hứng thú trong học tập, hoặc còn học vẹt, nhanh quên... Chính vì vậy, tôi rất trăn trở làm thế nào để tạo được hứng thú hơn cho học sinh trong mỗi giờ học, giúp các em khắc sâu hơn các đơn vị kiến thức và nhớ lâu hơn, từ đó nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường. Qua thời gian tìm tòi tôi đã mạnh dạn lựa chọn áp dụng biện pháp "Vận dụng phương pháp tổ chức trò 1 chơi và kỹ thuật sơ đồ tư duy để góp phần nâng cao hứng thú, hiệu quả trong môn Ngữ văn lớp 7". * Phương pháp tổ chức trò chơi: - Trò chơi là một hoạt động hướng tới mục đích chủ yếu là vui chơi, giải trí, thư giãn giúp cho tinh thần, đầu óc của con người được thoải mái, sảng khoái sau những giờ làm việc, học tập mệt mỏi, “thông qua hoạt động vui chơi để tiến hành hoạt động học tập”. - Phương pháp tổ chức chơi trò chơi hiện nay là một trong những phương pháp phổ biến trong dạy học nói chung và dạy học môn Ngữ Văn nói riêng nhằm hướng tới mục tiêu vừa hình thành năng lực phẩm chất, vừa phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh. Người giáo viên khi áp dụng phương pháp này vào dạy học sẽ tạo ra không khí lớp học sôi nổi, tạo môi trường, điều kiện cho nhiều học sinh được tham gia hoạt động học tập hơn ( kể cả những học sinh trung bình, yếu, kém) . - Phương pháp tổ chức chơi trò chơi trong dạy học sẽ phát huy tinh thần, định hướng học tập trong giai đoạn mới hiện nay đó là : “Chủ động, sáng tạo”, “Học mà chơi, chơi mà học” . Qua quá trình học tập, hợp tác, nghiên cứu, tìm hiểu nội dung bài học hầu hết các em học sinh sẽ nêu cao tinh thần đoàn kết, ý thức tự giác, chủ động tự học, tự sáng tạo, có kĩ năng tự xử lí tình huống, tiếp nhận thông tin, giải quyết các vấn đề thực tiễn phát sinh. Như vậy quá trình học tập sẽ vừa sôi nổi, hào hứng vừa vui chơi, vừa học tập một cách có hiệu quả. * Kỹ thuật sơ đồ tư duy: - Sơ đồ tư duy (còn được gọi là bản đồ khái niệm hay giản đồ ý) là một hình thức trình bày thông tin trực quan. Thông tin được sắp theo thứ tự ưu tiên và biểu diễn bằng các từ khoá, hình ảnh Thông thường, chủ đề hoặc ý tưởng chính được đặt ở giữa, các nội dung hoặc ý triển khai được sắp xếp vào các nhánh chính và nhánh phụ xung quanh. Có thể vẽ sơ đồ tư duy trên giấy, bảng hoặc thực hiện trên máy tính. - Trong dạy học Ngữ văn, kĩ thuật sơ đồ tư duy thường sử dụng kết hợp với dạy học hợp tác, phương pháp đàm thoại gợi mở, dạy học giải quyết vấn đề, dạy học dựa trên dự án để học sinh trình bày tóm tắt kết quả học tập của cá nhân hoặc nhóm. 6. Mục đích của giải pháp: Nâng cao chất lượng, hiệu quả trong giờ học Ngữ văn rói riêng và chất lượng môn Ngữ văn nói chung. a. Phương pháp tổ chức trò chơi: - Tăng cường khả năng chú ý nắm bắt nội dung bài học phát huy tính tích cực, năng động của học sinh. - Nâng cao hứng thú cho học sinh, góp phần làm giảm mệt mỏi, căng thẳng trong học tập của các em. Phát triển tính độc lập, ham hiểu biết và khả năng suy luận. - Tăng cường khả năng thực hành, vận dụng các kiến thức đã học. - Thu hút cả lớp theo dõi tham gia các hoạt động. 2 - Thông qua hoạt động trò chơi còn giúp các em phát triển được nhiều phẩm chất đạo đức như tình đoàn kết, thân ái, lòng trung thực, tinh thần cộng đồng trách nhiệm... b. Kỹ thuật sơ đồ tư duy: - Kích thích sự sáng tạo và tăng hiệu quả tư duy vì sơ đồ tư duy là một công cụ ghi nhận, và sắp xếp các ý tưởng, nội dung một cách nhanh chóng, đa chiều và logic. - Dễ dàng bổ sung, phát triển, sắp xếp lại, cấu trúc lại các nội dung. - Tăng khả năng ghi nhớ thông tin khi nội dung được trình bày dưới dạng từ khoá và hình ảnh. - HS có cơ hội luyện tập phát triển, sắp xếp các ý tưởng; nâng cao khả năng khái quát, tóm tắt, ghi nhớ tiêu điểm. 7. Nội dung: 7.1. Thuyết minh giải pháp mới hoặc cải tiến: a. Phương pháp tổ chức trò chơi Để đạt hiệu quả trong sử dụng trò chơi học tập thì việc đa dạng hoá trò chơi trong giờ học là vô cùng quan trọng để các em “chơi mà học”. Vì vậy khi lựa chọn trò chơi học tập, giáo viên cần lưu ý các nguyên tắc sau: - Trò chơi phải gắn với mục tiêu từng tiết học, phù hợp với bài dạy. - Luật chơi rõ ràng, đơn giản dễ nhớ, dễ thực hiện. - Sử dụng trò chơi đúng lúc, đúng chỗ. - Trò chơi phải kích thích được sự hứng thú của từng học sinh. - Đánh giá kết quả của trò chơi với thái độ nhẹ nhàng mang tính chất khích lệ, động viên nhưng phải công bằng. Trong phạm vi đề tài này, tôi xin trình bày một số trò chơi mà tôi đã áp dụng có hiệu quả trong giảng chương trình Ngữ văn 7: Trò chơi “Hộp quà may mắn”, trò chơi "Nhìn hình bắt chữ", trò chơi "Ô chữ", ... để đưa vào một số các tiết dạy cụ thể. * Trò chơi "Hộp quà may mắn" (Ô số may mắn): - Đặc điểm: Khi tham gia trò chơi chính là lúc học sinh hình thành kiến thức mới, ôn tập kiến thức đã học hay hoạt động luyện tập. Nhưng học sinh lại rất nhiệt tình và hứng khởi. Học sinh vui vẻ khi gặp hộp quà (ô số) may mắn, vỡ òa với những phần thưởng bất ngờ. Còn khi gặp những hộp quà (ô số) chứa câu hỏi học sinh cũng cố gắng làm tốt. Chính vì thế, trò chơi này mang lại hiệu quả rất cao. Trò chơi này thích hợp với một giờ văn học hoặc tiếng Việt. 3 - Chuẩn bị: + Giáo viên có thể sử dụng máy chiếu hoặc trực tiếp chuẩn bị các hộp quà với màu sắc khác nhau cùng các câu hỏi đi kèm tương ứng với kiến thức cần hình thành. + Giáo viên cho học sinh chọn hộp quà trước hoặc có thể chọn câu hỏi trước để trả lời. Đây là những câu hỏi mà nội dung của nó có tầm quan trọng đối với bài học mà học sinh cần nắm chắc và ghi nhớ được nhất là để hình thành các khái niệm. + Các hộp quà này có thể chuẩn bị sẵn. Để trò chơi mới lạ hơn, giáo viên có thể áp dụng công nghệ thông tin để tạo ra trò chơi. * Ví dụ: Đối với bài: Chuyển đổi câu chủ động thành câu bị động: - Ở hoạt động Luyện tập, giáo viên cho học sinh tham gia vào trò chơi. Giáo viên chia ra nhóm hoặc cá nhân. - Yêu cầu cầu của trò chơi: Học sinh vận dụng những kiến thức đã học để làm bài tập. - Luật chơi: GV chuẩn bị 3 hộp quà (hoặc 3 ô số). Trong mỗi hộp quà (ô số) có chứa 1 câu hỏi và 1 phần quà hấp dẫn. Nếu trả lời đúng thì phần quà sẽ hiện ra. Nếu trả lời sai thì HS sẽ không được nhận quà và nhường quyền trả lời cho bạn khác. Thời gian suy nghĩ cho mỗi câu trả lời GV sẽ căn cứ vào nội dung câu hỏi. Điều đặc biệt là trong các hộp quà (ô số) sẽ có 1 ô may mắn. Khi mở được ô may mắn học sinh có thể được nhận ngay 1 phần quà. Phần quà có thể là điểm cộng, chiếc bút, cục tẩy....nhiều khi rất bất ngờ có thể chỉ là 1 tràng pháo tay của cả lớp. - GV chuẩn bị ô số trên máy chiếu Ô số 1: 4 Ô số 2: Ô số 3: * Trò chơi “Nhìn hình bắt chữ”: - Đặc điểm: 5 Thay vì yêu cầu học sinh tìm từ (trái nghĩa, đồng nghĩa, đồng âm), thành ngữ, câu ca dao hay tục ngữ... giáo viên có thể tổ chức cho học sinh chơi trò chơi “Nhìn hình bắt chữ”. Giáo viên đưa ra những hình ảnh có tính chất gợi mở, học sinh dễ dàng thực hiện yêu cầu của giáo viên với sự hào hứng, nhiệt tình - Chuẩn bị: Giáo viên có thể sử dụng máy chiếu hoặc dùng tranh ảnh. Sau khi tìm từ, thành ngữ, câu tục ngữ, ca dao giáo viên có thể hỏi ý nghĩa của các từ, thành ngữ, câu....Hoặc cách vận dụng bài học trong các thành ngữ, câu ca dao, tục ngữ vào cuộc sống.... Trò chơi này góp phần củng cố khả năng diễn đạt, nhanh nhạy của HS đồng thời còn phát huy được những kiến thức mà học sinh đã biết. * Ví dụ : Bài: Thành ngữ - Sau khi học xong bài Thành ngữ, giáo viên tổ chức trò chơi “Nhìn hình đoán thành ngữ”. Từ hình ảnh gợi ý em hãy đọc chính xác thành ngữ tương ứng. - Sau khi học sinh tìm ra thành ngữ giáo viên có thể hỏi thêm: Ý nghĩa của thành ngữ này là gì? - Giáo viên có thể nhận xét, bổ sung hoàn thiện câu trả lời của học sinh. - Một số hình ảnh có thể dùng làm gợi ý trong bài này: 6 * Trò chơi "Ô chữ": - Đặc điểm: Trò chơi này khá quen thuộc và đã được áp dụng nhiều nhưng nó lại được sự đón nhận rất nhiệt tình và hứng khởi của các em học sinh. Chính vì thế, nó mang lại hiệu quả cũng rất cao. Trò chơi này thích hợp với một giờ Văn học hoặc tiếng Việt. Có thể áp dụng trò chơi này để vào bài hoặc dùng ôn tập ở cuối bài. - Chuẩn bị: + Giáo viên soạn ra một bảng ô chữ cùng các câu hỏi đi kèm tương ứng với kiến thức của các ô hàng ngang cần thực hiện. Từ gợi ý của các ô hàng ngang, học 7 sinh dần dần tìm ra nội dung của ô hàng dọc - Đây là ô chính mà nội dung của nó có tầm quan trọng đối với bài học mà học sinh cần nắm chắc và ghi nhớ được. Hoặc giáo viên có thể tô màu một số chữ trong từ hàng ngang để học sinh tìm từ khóa bằng cách ghép các chữ tô màu đã tìm được + Bảng ô chữ này có thể chuẩn bị từ bảng phụ. Để trò chơi mới lạ hơn, giáo viên có thể áp dụng công nghệ thông tin để tạo ra các sile trò chơi trên Powerpoint. * Ví dụ : Bài Chơi chữ: - Để giúp học sinh nhớ lại kiến thức đã học kết hợp giới thiệu vào bài “Chơi chữ” giáo viên có thể sử dụng trò chơi ô chữ. Giáo viên chia ra nhóm hoặc cá nhân. - Yêu cầu cầu của trò chơi: Học sinh nắm được những kiến thức về văn học, tiếng Việt và Tập làm văn đã được học. - Giáo viên dùng máy chiếu cho học sinh (đại diện nhóm) lựa chọn câu hỏi để tìm từ hàng ngang. Nếu học sinh (nhóm) nào không trả lời được theo thời gian quy định thì phải nhường lượt cho nhóm khác tiếp tục trò chơi. - Học sinh (nhóm) nào tìm được kiến thức ở ô hàng ngang thì được cộng điểm, tìm được ô hàng dọc khi chưa giải hết ô hàng ngang sẽ thắng cuộc (cộng điểm hoặc nhận quà) - Cụ thể: Bảng ô chữ như sau: Câu hỏi – đáp án từ hàng ngang: Câu 1: (Gồm 9 ô chữ): Tên vị lãnh tụ vĩ đại của cách mạng Việt Nam? Đáp án: Hồ Chí Minh 8 Câu 2: (Gồm 8 ô chữ): Từ được dùng để biểu thị ý nghĩa quan hệ giữa các bộ phận của câu hay giữa câu với câu trong đoạn văn? Đáp án: Quan hệ từ Câu 3: (Gồm 8 ô chữ): Đây là tên 1 bài thơ của tác giả Nguyễn Trãi? Đáp án: Côn Sơn ca Câu 4: (Gồm 12 ô chữ): Tên một bài thơ nổi tiếng của Hồ Xuân Hương? Đáp án: Bánh trôi nước Câu 5: (Gồm 11 ô chữ) : Tên nhà thơ nổi tiếng đời Đường đã xa quê hơn 50 năm lên kinh đô Trường An làm quan Đáp án: Hạ Tri Chương Câu 6: (gồm 6 ô chữ ): Tên gọi của từ được cấu tạo bằng cách ghép các tiếng có nghĩa lại với nhau? Đáp án: Từ ghép Câu 10: (gồm 10 ô chữ ): Tên gọi khác của văn biểu cảm? Đáp án: Văn trữ tình Từ khóa là: CHƠI CHỮ Kết quả của trò chơi ô chữ này như sau: b. Kỹ thuật sơ đồ tư duy 9 * Các bước tiến hành thực hiện giải pháp: - Trong quá trình dạy học, tôi đã sử dụng kỹ thuật sơ đồ tư duy trong nhiều tình huống khác nhau: + Giáo viên chuẩn bị sơ đồ tư duy và tổ chức cho học sinh tìm hiểu bài giảng theo trình tự các nhánh nội dung trong sơ đồ tư duy do giáo viên thiết kế; có thể yêu cầu học sinh hoàn thành các nội dung còn khuyết hoặc triển khai thêm dựa trên sơ đồ tư duy do giáo viên cung cấp. + Giáo viên yêu cầu học sinh thiết kế sơ đồ tư duy để tóm tắt nội dung, ôn tập bài học; trình bày kết quả thảo luận, nghiên cứu của nhóm hoặc cá nhân; trình bày tổng quan một vấn đề; thu thập sắp xếp ý tưởng; ghi chú bài học, - Cụ thể: + Giáo v iên hướng dẫn học sinh chuẩn bị giấy khổ lớn (A3, A0), bút, tên chủ đề, từ khóa, biểu tượng... + Giáo viên hướng dẫn học sinh cách thức vẽ sơ đồ tư duy. Bước 1: Viết tên chủ đề ở trung tâm, hay vẽ một hình ảnh phản ánh chủ đề. Bước 2: Vẽ các nhánh chính từ chủ đề trung tâm. Trên mỗi nhánh chính viết một khái niệm, phản ánh một nội dung lớn của chủ đề. Nên sử dụng từ khoá và viết bằng chữ in hoa. Có thể dùng các biểu tượng để mô tả thuật ngữ, từ khoá để gây hiệu ứng chú ý và ghi nhớ. Bước 3: Từ mỗi nhánh chính vẽ tiếp các nhánh phụ, viết tiếp những nội dung thuộc nhánh chính đó. Các chữ trên nhánh phụ được viết bằng chữ in thường. Tiếp tục như vậy ở các tầng phụ tiếp theo cho đến hết. - Ví dụ: Khi dạy bài Liệt kê, để khắc sâu thêm kiến thức bài học về các kiểu liệt kê, tôi hướng dẫn học sinh và các em đã vẽ sơ đồ tư duy như sau: 10 Và đây là sản phẩm của các em khi được giáo viên yêu cầu hoàn thành ở nhà nhằm khắc sâu kiến thức phần Đọc, tìm hiểu chi tiết văn bản của bài "Tiếng gà trưa": 11 * Kết quả khi thực hiện giải pháp: Thực hiện biện pháp này học sinh đã được trải nghiệm học tập và củng cố kiến thức thông qua việc lập các sơ đồ tư duy, tham gia chơi các trò chơi trong phạm vi chương trình Ngữ văn 7. Biện pháp góp phần rèn kỹ năng hợp tác, hoạt động nhóm, kỹ năng đưa ra quyết định, nuôi dưỡng tình cảm đối với môn học. Đồng thời, tránh được tâm lí “ngại” học Văn. Từ đó, học sinh yêu thích và tự tin hơn trong học tập. Với giải pháp trên thì số học sinh thích học môn Văn được nâng lên một cách rõ rệt, khi được hỏi đa số các em đều trả lời thích học những tiết có áp dụng tổ chức trò chơi hoặc được vẽ sơ đồ tư duy. Sự hứng thú trong học tập bộ môn đã tăng lên thể hiện qua bảng khảo sát dưới đây: Thái độ Rất Thích Bình Không thích thường thích 12 1. Phương pháp tổ chức trò chơi 90/104 14/104 và kỹ thuật sơ đồ tư duy có gây (86,5%) (13,5%) hứng thú cho em không? 2. Với các tiết học có sử dụng kỹ 93/104 11/104 thuật sơ đồ tư duy và phương (89,4%) (10,6%) pháp tổ chức trò chơi, em thấy hiểu bài hơn không? 3. Khi được chủ động chiếm lĩnh 91/104 13/104 tri thức, em có thấy yêu môn Văn (87,5%) (12,5%) hơn không? 13 Nhờ đó mà điểm trung bình cuối năm học môn Ngữ văn được tăng lên rõ rệt, 100% điểm trung bình môn trên 5,0. Cụ thể như sau: Tổng số Xếp loại học lực môn Ngữ văn 7 HS ( Số liệu, tỉ lệ %) Giỏi Khá T.bình Yếu Kém Trước khi áp dụng 104 03 15 60 21 05 biện pháp 2,9% 14,4% 57,7% 20,2% 4,8% ( Bài khảo sát đầu năm học 2020- 2021) Sau khi áp dụng 104 08 45 38 11 2 biện pháp 7,7% 43,3% 36,5% 10,6% (Cuối học kì I) Năm học 2020 – 2021 1,9 Sau khi áp dụng 104 21 50 33 0 0 14 biện pháp 20,2% 48,1% 31,7% (Cuối năm học) Năm học 2020 – 2021 Kết quả đó cho thấy rõ việc vận dụng kỹ thuật sơ đồ tư duy và phương pháp trò chơi vào dạy học đã góp phần nâng cao chất lượng học sinh.Các em tự giác, tích cực, chủ động trong việc tìm tòi kiến thức. Đa số học sinh đã say mê môn học và từ đó chăm học, học tốt hơn. 7.2. Phạm vi áp dụng tại đơn vị: Trên đây là biện pháp “Vận dụng phương pháp tổ chức trò chơi và kỹ thuật sơ đồ tư duy góp phần nâng cao hứng thú và hiệu quả trong việc giảng dạy môn Ngữ văn 7”mà tôi đã áp dụng khá thành công khi giảng dạy vào và đem lại hiệu quả tương đối tốt. Dựa trên kết quả nghiên cứu và thực hiện, tôi nhận thấy đây là biện pháp mà giáo viên có thể áp dụng vào môn Ngữ văn ở các lớp 6, 7, 8, 9 cũng như nhiều môn học khác trong chương trình học cấp trung học cơ sở. 7.3. Thuyết minh về lợi ích kinh tế, xã hội của giải pháp: Khi triển khai áp dụng kinh nghiệm này vào thực tế giảng dạy, tôi thu được nhiều kết quả khả quan. Những giải pháp trên giúp các em chăm ngoan, tích cực hơn trong các hoạt động học tập không chỉ ở trên lớp mà còn tự học ở nhà, góp phần giúp các em phát triển được nhiều phẩm chất đạo đức như tình đoàn kết, thân ái, lòng trung thực, tinh thần cộng đồng trách nhiệm...; chi phí vật chất không cao, có thể sử dụng được nhiều lần trong thời gian khá dài (giấy, bút ...) vì vậy những biện pháp này mang lại lợi ích kinh tế, xã hội cao. * Cam kết: Tôi cam đoan những điều trên đây là đúng sự thật và không sao chép hoặc vi phạm bản quyền. Xác nhận của cơ quan, đơn vị Tác giả sáng kiến Ngô Thị Hiền 15 16

File đính kèm:

  • docxvan_dung_phuong_phap_to_chuc_tro_choi_va_ki_thuat_so_do_tu_d.docx