Giải pháp nâng cao chất lượng học sinh giỏi

docx16 trang | Chia sẻ: KA KA | Ngày: 20/01/2026 | Lượt xem: 21 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Giải pháp nâng cao chất lượng học sinh giỏi, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
TRƯỜNG THCS THƯỜNG THẮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI GIÁO VIÊN: TRỊNH THỊ HÀ MÔN: ĐỊA LÝ 9 NĂM HỌC: 2023 - 2024 Thường Thắng, tháng 12 năm 2023 CHƯƠNG I. TỔNG QUAN I. CƠ SỞ LÝ LUẬN: Đảng và Nhà nước ta thường xuyên quan tâm đến công tác phát hiện, tuyển chọn, bồi dưỡng và đào tạo nhân tài. Có chính sách đãi ngộ đặc biệt đối với các nhà khoa học tài năng, tạo mọi điều kiện thuận lợi để họ cống hiến và trưởng thành. Công tác đào tạo nhân tài là nhiệm vụ cao cả của toàn xã hội, song trách nhiệm trực tiếp là của những người làm công tác giáo dục, chính vì thế trong những năm gần đây, Bộ giáo dục và đào tạo có nhiều chủ trương mới về công tác bồi dưỡng học sinh giỏi. Để có những học sinh đạt giải thì công tác bồi dưỡng học sinh giỏi (HSG) là một nhiệm vụ quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục, bồi dưỡng nhân tài cho quê hương, đất nước. Bồi dưỡng HSG là một công việc khó khăn và lâu dài, đòi hỏi nhiều công sức của thầy cô và học sinh. Trong những năm gần đây, qua các kỳ thi HSG cấp huyện, cấp tỉnh, môn Địa lí đã đạt được những thành công nhất định góp phần vào thành tích chung của trường THCS Thường Thắng. Phát hiện và tuyển chọn học sinh giỏi nói chung và bồi dưỡng HSG môn Địa lí nói riêng, cần được giáo viên thực hiện ngay từ đầu cấp học. Trong quá trình giảng dạy, giáo viên phải luôn đồng hành cùng học sinh để dạy cho học sinh phương pháp tiếp cận vấn đề mới, qua đó phát hiện học sinh có tư chất thông minh. Chú trọng đánh giá, phát hiện học sinh có tố chất về: kiến thức, kĩ năng và biết liên hệ những kiến thức đã học với tình hình thực tế. Căn cứ kế vào nhiệm vụ năm học nhằm nâng cao chất lượng dạy và học có hiệu quả của trường THCS Thường Thắng. II. PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN TẠO RA SÁNG KIẾN: Trong quá trình thực hiện sáng kiến, tôi sử dụng các phương pháp: - Phương pháp thu thập và sử lí tài liệu: Việc thu thập và sử lí tài liệu được thực hiện dựa vào mục đích và nhiệm vụ của sáng kiến. Để đảm bảo tính khoa học và tính sư phạm trong quá trình thu thập tài liệu, phải đặc biệt chú ý đến nội dung chương trình SGK Địa lí lớp 8, SGK Địa lí lớp 9 và cấu trúc đề thi của Sở, Phòng giáo dục và đào tạo ban hành. - Phương pháp phân tích tổng hợp: Để đảm bảo tính logic, khoa học và tính sư phạm và tính khả thi thì trong quá trình thực hiện sáng kiến, cần phải xem xét, phân tích các đối tượng nghiên cứu trong một hệ thống nhất, hoàn chỉnh. - Phương pháp thực nghiệm: Để kiểm chứng tính khoa học và thực tiễn của sáng kiến cần phải tiến hành thực nghiệm sư phạm. Đó là việc cho học sinh tham gia thi học sinh giỏi cấp trường, cấp huyện. Từ kết quả đạt được rút ra những nhận định cần thiết, từ đó đề xuất, kiến nghị giúp cho công tác bồi dưỡng học sinh giỏi đạt được hiệu quả như mong muốn. III. CÁC MỤC TIÊU CẦN ĐẠT ĐƯỢC: Tìm hiểu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc bồi dưỡng học sinh giỏi bộ môn Địa lí lớp 9. Từ đó lựa chọn học sinh tham gia đội tuyển và đưa ra các phương pháp bồi dưỡng phù hợp. Vận dụng các phương pháp cụ thể vào bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi môn Địa lí địa lớp 9 nhằm phát triển hứng thú, tính tích cực, tự lực tham gia hoạt động học tập của học sinh. Đưa ra một số kiến nghị về công tác bồi dưỡng học sinh giỏi nói chung và môn Địa lí nói riêng. CHƯƠNG II. MÔ TẢ SÁNG KIẾN I. VẤN ĐỀ CỦA SÁNG KIẾN 1. Thực trạng bồi dưỡng học sinh giỏi môn Địa lí ở trường THCS Thường Thắng Trường THCS Thường Thắng đóng trên địa bàn xã Thường Thắng, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang. Là một xã khó khăn của huyện Hiệp Hòa, nằm cách trung tâm huyện khoảng 10 km. Cùng với đó là chất lượng của học sinh nhà trường so với mặt bằng chung của học sinh THCS trên địa bàn huyện Hiệp Hòa còn thấp, gây khó khăn cho việc phát triển giáo dục cũng như bồi dưỡng học sinh giỏi của nhà trường. Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi nói chung và bồi dưỡng học sinh giỏi môn Địa lí nói riêng luôn nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tạo điều kiện, giúp đỡ của nhà trường, tổ chuyên môn, sự ủng hộ của cha mẹ học sinh. Đa số em học sinh ngoan, chăm học; Học sinh trong đội tuyển yêu thích bộ môn. Cơ sở vật chất trường của trường tương đối đầy đủ có đủ phòng học cho học sinh và các phòng học bộ môn. Bên cạnh thuận lợi thì công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Địa lí ở trường còn có những khó khăn như sau: giáo viên dạy bồi dưỡng vừa phải bảo đảm chất lượng đại trà, vừa phải hoàn thành chỉ tiêu chất lượng mũi nhọn và công tác kiêm nhiệm do đó cường độ làm việc quá tải và việc đầu tư cho công tác bồi dưỡng HSG cũng có phần bị hạn chế. Giáo viên dạy bồi dưỡng đều phải tự soạn chương trình dạy, theo kinh nghiệm của bản thân, theo chủ quan, tự nghiên cứu, tự sưu tầm tài liệu. Học sinh học chương trình chính khóa phải học quá nhiều môn, lại phải học thêm những môn khác, cộng thêm chương trình bồi dưỡng HSG nên rất hạn chế về thời gian tự học nên các em đầu tư ít thời gian cho việc học bồi dưỡng HSG, do đó ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình học cũng như kết quả. Một số học sinh tham gia học bồi dưỡng chưa cố gắng nhiều nên kết quả thi học sinh giỏi ở một số môn chưa cao. Một số ít phụ huynh học sinh chưa thực sự quan tâm đến việc học tập của con em mình, khi nhà trường chọn vào đội tuyển lại chưa quan tâm cho đi bồi dưỡng. 2. Những tồn tại, hạn chế Thực tế môn Địa lí ít được học sinh chú trọng nhưng đây lại là một môn học không phải là dễ, để dạy tốt và học tốt môn Địa lí ở trường THCS Thường Thắng là một việc khó, thì việc phát hiện và dạy học sinh giỏi môn Địa lí lại càng khó hơn gấp bội, đòi hỏi cả thầy cô và học sinh phải có một phương pháp dạy và học tập đúng đắn, kết hợp với lòng nhiệt tâm cao thì mới đạt kết quả cao. Học sinh giỏi môn Địa lí không giống như học sinh giỏi của các môn học khác, lại càng không phải là giỏi thuộc các bài Địa lí là được mà các em phải có kiến thức các bộ môn khoa học tự nhiên như: Toán, Lí, Hóa, Sinh. Bởi vì kĩ năng Địa lí cần phải có sự hỗ trợ của các môn học này. Đặc biệt là bộ môn Toán học. Bên cạnh đó việc xây dựng chương trình bồi dưỡng hiện nay có rất nhiều sách nâng cao và các nguồn tài liệu tham khảo khác song chương trình bồi dưỡng HSG thì chưa có sách hướng dẫn chi tiết, cụ thể từng tiết, từng buổi học như trong chương trình chính khoá. Người giáo viên bồi dưỡng phải chủ động tìm tòi tài liệu, phương pháp sao cho phù hợp với học sinh thực tế từng đơn vị. Vì vậy việc xây dưỡng chương trình bồi dưỡng là một việc làm hết sức quan trọng và rất khó khăn nếu như chúng ta không có sự tham khảo, tìm tòi và chọn lọc tốt. Ngoài ra khi chọn đội tuyển học sinh giỏi cho môn Địa lí ở trường THCS Thường Thắng cũng hết sức khó khăn, vì tư tưởng của các em là thích thi những môn chính như Toán, Lý, Hóa, Anh....Các em được chọn thường không có vị trí cao trong học tập ở lớp hoặc bị loại từ những đội tuyển khác. 3. Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế Về học sinh chưa nghiêm túc trong học tập, vẫn cho rằng môn học không quan trọng nên không nghiên cứu sâu và yêu thích về môn học . Địa bàn nơi trường đóng thuộc vùng nông thôn, mặt bằng dân trí chưa cao, kinh tế chủ yếu là nông nghiệp ,đời sống còn nhiều khó khăn, việc chăm sóc và quan tâm đến học hành của con cái chưa đúng mức .. Bản thân giáo viên bồi dưỡng mới ra trường, kinh nghiệm trong giảng dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi môn Địa lí chưa nhiều, tài liệu tham khảo dành cho bộ môn còn thiếu thốn, . Ngoài ra diễn biến phức tạp của tình hình dịch bệnh Covid 19 trên địa huyện Hiệp Hòa nói chung và địa bàn xã Thường Thắng nói riêng cũng ảnh hưởng rất lớn tới công tác bồi dưỡng học sinh giỏi trong năm học. 4. Tính cấp thiết cần tạo ra sáng kiến Học sinh giỏi môn Địa lý chỉ cần học thuộc là chưa đủ, chưa chính xác vì Địa lý là môn khoa học có đối tượng nghiên cứu phong phú, phức tạp. Các hiện tượng địa lý không chỉ phân bố trên bề mặt đất mà cả trong không gian và trong lòng đất. Hơn nữa, các hiện tượng ấy ở đâu và bao giờ cũng phát sinh, tồn tại và phát triển một cách độc lập nhưng lại luôn có quan hệ hữu cơ với nhau. Chính vì vậy, người dạy và học Địa lí cần có phương pháp tư duy, phân tích, xét đoán các hiện tượng địa lý theo quan điểm hệ thống. Chúng ta hiểu rằng học sinh giỏi môn Địa lí là những học sinh phải nắm được những kiến thức cơ bản của bộ môn và phải vận dụng được những hiểu biết; những kỹ năng địa lý để giải quyết những nội dung cơ bản theo yêu cầu của đề bài, của thực tiễn cuộc sống và học sinh giỏi môn Địa lý là những học sinh có năng lực độc lập suy nghĩ, vận dụng tốt nhất những kiến thức, kỹ năng chắc chắn về địa lí. Với những mục tiêu đó, tôi cũng thấy rằng việc bồi dưỡng học sinh giỏi hiện nay của phần lớn giáo viên ít nhiều đã đáp ứng tương đối đầy đủ các mục tiêu trên. Điều này được minh chứng qua kết quả bồi dưỡng học sinh giỏi của giáo viên vì những em đạt giải học sinh giỏi là những em hội tụ đủ các mục tiêu trên. II. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN SÁNG KIẾN 1. Các giải pháp đã sử dụng để bồi dưỡng học sinh giỏi của nhà trường 1.1. Xây dựng kế hoạch cụ thể trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi Giáo viên phải lên kế hoạch cụ thể về: thời gian bồi dưỡng; nội dung; thời lượng; số lượng học sinh bồi dưỡng; chỉ tiêu phấn đấu đạt giải và bản thân phải thực hiện nghiêm túc theo kế hoạch. Giáo viên bồi dưỡng nên biên soạn tài liệu theo từng chuyên đề của nội dung bồi dưỡng học sinh giỏi môn Địa lí, vì đây là biện pháp mang tính bền vững đối với công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Địa lí. Từ thực tế kinh nghiệm bồi dưỡng những năm qua cho thấy nội dung bồi dưỡng học sinh giỏi môn Địa lý rất phong phú được trải đều ở 02 khối lớp 8, 9 và ở mỗi khối lớp lượng kiến thức cần truyền đạt cho học sinh là vô hạn, giáo viên bồi dưỡng rất khó xác định được nội dung kiến thức nào cần bồi dưỡng trước cho học sinh, nội dung nào không quan trọng để giới hạn, đặc biệt là phần Địa lý tự nhiên Việt Nam (khối 8) và Địa lý kinh tế - xã hội Việt Nam (khối 9), bên cạnh đó trong một vài trường hợp người giáo viên không thể bồi dưỡng kiến thức trong sách giáo khoa theo một trình tự cố định hết Bài 1 đến Bài 2, Bài 3 do không đủ thời gian hoặc do kiến thức được sắp xếp theo từng phần, từng chương theo phương pháp dàn trải. Chính vì thế, bản thân đã tiến hành soạn tài liệu riêng theo từng chuyên đề của nội dung bồi dưỡng học sinh giỏi. Từ nội dung bồi dưỡng học sinh giỏi các năm qua theo tôi có các chuyên đề cơ bản sau: - Chuyên đề Địa lý tự nhiên Việt Nam (khối 8). Với các nội dung: Vị trí địa lí, giới hạn, hình dạng lãnh thổ Việt Nam; Vùng biển Việt Nam (không bao gồm có các bộ phận của vùng biển Việt Nam); Địa hình Việt Nam; Khí hậu Việt Nam; Sông ngòi Việt Nam. - Chuyên đề Địa lý kinh tế - xã hội Việt Nam (khối 9). Với các nội dung: Địa lí dân cư Việt Nam; Địa lí kinh tế Việt Nam; Địa lí vùng kinh tế Việt Nam. - Chuyên đề về kỹ năng vẽ, phân tích và nhận xét các loại biểu đồ. Như vậy, từ các chuyên đề trên giáo viên cần tìm những tài liệu liên quan để biên soạn, và thông thường các chuyên đề này được giảng dạy chuyên sâu hơn ở chương trình Địa lý lớp 12 – Nâng cao (đối với khối 8, 9) và chương trình Địa lý lớp 10 – Nâng cao (đối với khối 6), hay được tập trung trong các bộ đề thi tốt nghiệp lớp 12, thi Cao đẳng, Đại học môn Địa lý. Đối với bản thân, tài liệu biên soạn chủ yếu dựa vào các nguồn: - Hướng dẫn học và khai thác Atlat Địa lý Việt Nam (Tác giả: GS-TS Lê Thông, PGS-TS Nguyễn Minh Tuệ, Vũ Đình Hòa do Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản năm 2008). - Ôn tập môn Địa lí chuẩn bị cho kì thi Trung học phổ thông quốc gia (Tác giả: Lê Thông, Nguyễn Minh Tuệ, Vũ Đình Hòa, Lê Mỹ Phong, Nguyễn Quý Thao do Nhà xuất bản giáo dục xuất bản năm 2015). - Chuyên đề Địa lý 12: Phần Địa lý tự nhiên - dân cư và phần Địa lý kinh tế - xã hội Việt Nam (Tác giả: PGS-TS Nguyễn Đức Vũ do Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam xuất bản năm 2009). - Một số đề thi học sinh giỏi môn Địa lý cấp THCS, THPT và tốt nghiệp CĐ, ĐH (sưu tầm). Khi đã biên soạn được tài liệu giáo viên rất thuận lợi trong việc bồi dưỡng cho học sinh vì lượng kiến thức đã được định trước, đồng thời hạn chế việc mất thời gian và có thể bồi dưỡng theo sở thích của mình. 1.2. Chọn đội tuyển Việc chọn đội tuyển môn Địa lí ở trường THCS Thường Thắng không nằm ngoài quy luật chung, cũng khó khăn, do học sinh học tốt không theo do tác động của phụ huynh, cùng với những tác động “cạnh tranh” từ các môn Toán , Lí, Hóa học, Sinh học, Tiếng Anh, Ngữ văn thậm chí cả môn Lịch sử. - Phải chọn đội tuyển sớm: Thường thì một khối học của trường THCS Thường Thắng chỉ có 60-70 học sinh, trong đó 8-12 em có khả năng dự thi học sinh giỏi cấp huyện các môn văn hóa, nếu không chủ động chọn trước sẽ khó khăn. Nếu 1 học sinh đang lưỡng lự phải thuyết phục. Trường hợp những học sinh tốt, đứng đầu mà các môn toán văn chọn, bản thân em muốn đi các môn đó thì phải vui vẻ, động viên các em cố gắng kèm theo lời nhắn: “ Nếu em đi thi môn Toán (văn) không đạt giải thì năm sau theo môn Địa nhé- Thầy giáo thấy em có đủ khả năng, có thể đạt giải cao môn Địa” ... - Phải đảm bảo tính tự nguyện: Kiên quyết không ép buộc, không lấy những học sinh không toàn tâm toàn ý theo bộ môn. Hơn nữa khi tự nguyện học sinh mới có thể tự học, tự giác, nỗ lực phấn đấu. - Về chất lượng: Phải có học lực từ khá trở lên, một số quan niệm sai lầm cho rằng môn Địa lí dễ học, chỉ cần thuộc lòng , nhưng thực ra môn Địa lí đòi hỏi khả năng tư duy cao, kĩ năng phân tích, so sánh, tổng hợp, xử lí số liệu nhanh, chính xác, kĩ năng nhận định, phán đoán... Cần học sinh có tố chất khá, giỏi về môn Ngữ văn , môn Toán. Hơn nữa học sinh có tố chất Văn , Toán sẽ đảm bảo cho việc thi vào lớp 10 THPT đối với lớp 9, thường diễn ra sau kì thi học sinh giỏi. Giáo viên có thể yên tâm bồi dưỡng, không lo em sẽ bị trượt khi thi vào lớp 10 THPT. Tuy nhiên nếu lấy được học sinh tốp 1- Những học sinh đứng đầu khối thì việc ôn thi sẽ thuận lợi hơn nhiều. - Về số lượng: phải đảm bảo đội tuyển có từ 3 học sinh trở lên (Nếu lấy được trên 10 học sinh càng tốt) để các em có thể hổ trợ lẫn nhau trong quá trình học, để các em được cạnh tranh lẫn nhau, đồng thời giáo viên có thể cho thi loại sau những đợt học. - Nên chọn học sinh khối dưới: Tại trường THCS Thường Thắng mỗi năm khối lớp 9 chỉ có từ 60-70 học sinh. Trong đó chỉ có từ 8-10 học sinh có khả năng dự thi học sinh giỏi cấp huyện 9 môn văn hóa, vì vậy để có số lượng đông, đảm bảo tính kế thừa phải lấy nguồn từ khối 8, thậm chí là khối 7. Mặc dù các em “non nớt” hơn, nhưng chưa chịu nhiều áp lực học tập như các anh chị khối 9, nên có nhiều thời gian hơn để ôn luyện bộ môn. 1.3. Treo thưởng và thưởng. Bản thân giáo viên coi việc thưởng cho học sinh là tạo ra tình huống có vấn đề trong quá trình dạy học, tạo ra hiệu quả học tập cao hơn. - Mức thưởng áp dụng từ thấp đến cao. - Cứ mỗi bài thi có bài làm đạt từ 18/20 điểm trở lên được thưởng 1 phần quà (1 cuốn sổ trị giá 10 000đ) - Thưởng giải Nhất huyện 100 000đ, giải Nhì 50 000đ. - Thưởng giải Nhất Tỉnh 1000 000đ (một triệu đồng), Giải Nhì 500 000đ (Năm trăm nghìn đồng), Giải Ba 300 000đ (Ba trăm nghìn đồng), Giải Khuyến khích 200 000đ (Hai trăm nghìn đồng) Đề xuất nhà trường tăng mức thưởng đối với học sinh đạt giải cao, bởi vì trong những năm qua mức thưởng có tăng lên nhưng vẫn còn rất thấp so với các trường THCS trong huyện. Thực ra, người giáo viên bồi dưỡng đã gánh lên vai trách nhiệm nặng nề, bồi dưỡng vì chuyên môn, vì danh dự bản thân, chấp nhận hy sinh thời gian, không tính toán đến lợi ích kinh tế, thậm chí tự nguyện bỏ tiền túi ra thưởng cho học sinh, điều này sẽ làm thay đổi suy nghĩ của lãnh đạo nhà trường, của đồng nghiệp, đặc biệt có tác dụng kích thích lớn đối với quá trình ôn luyện của học sinh. 1.4. Quan tâm đặc biệt tới đội tuyển, “thổi lửa” cho các em. Giáo viên phải thực sự gần gũi, quan tâm , nắm chắc đặc điểm cá nhân, gia đình của từng thành viên đội tuyển, tranh thủ thời gian tiếp xúc riêng với từng thành viên, luôn khẳng định: “Em có đủ khả năng”, “ Nếu cố gắng em có thể đạt giải cao” , “ Thầy giáo tin tưởng em” , chỉ rõ những điểm mạnh, hạn chế của từng em, hướng phát huy thế mạnh và khắc phục hạn chế. Quan tâm tới học sinh khi ốm đau như điện, thăm hỏi. Phải thực sự tâm lí, chú ý tới nhu cầu của lứa tuổi học sinh đảm bảo vừa học vừa chơi- Chơi để học hiệu quả hơn. Sử dụng tổng hợp các biện pháp để thổi vào các em sự đam mê bộ môn, quyết tâm học tập để đạt giải cao mang lại vinh quang cho bản thân, gia đình, nhà trường thầy cô cụ thể như nêu gương thế hệ đi trước. Tạo điều kiện để giao lưu giữa các thế hệ học sinh đội tuyển môn Địa trong dịp hè, dịp tết âm lịch... để củng cố thêm quyết tâm, tạo thêm niềm tin cho các thế hệ đi sau. Qua thực tế ở bất cứ năm học nào học sinh cũng bị ảnh hưởng tư tưởng bởi sợ tác động tiêu cực từ gia đình, bạn bè, thậm chí là 1 số thầy cô: “Thi Địa lí để làm gì”, “ Cứ ôn địa lí hôm sau trượt lớp 10 đấy”..., dẫn đến một số học sinh dao động tư tưởng. Giáo viên cần có biện pháp kịp thời để chấn chỉnh, làm sao để các em yên tâm học tập. vì thực ra các em phải cùng lúc thực hiện 2 nhiệm vụ là ôn thi học sinh giỏi và ôn thi vào lớp 10, các em hoàn toàn có thể sắp xếp thời gian hợp lí để ôn luyện, hơn nữa sau khi thi học sinh giỏi cấp Tỉnh vào cuối tháng 3. Các em có thể dành toàn bộ thời gian (khoảng 3 tháng) ôn thi vào lớp 10. Hơn nữa thi vào lớp 10 không khó thường tỉ lệ đậu trên 85%. Đề nghị nhà trường miễn giảm lao động cho các em để các buổi lao động các em học bộ môn. 1.5. Dạy đội tuyển. Dạy sớm: dạy ngay từ tháng 6, tháng 7, chậm nhất thì tháng 8 phải dạy đội tuyển lớp 9. Vì thời gian này học sinh rảnh rỗi hơn, không chịu sức ép của các môn học khác. Dạy trên lớp chủ yếu dạy kĩ năng, phương pháp cách làm. Sau mỗi buổi học giao bài tập về nhà cho học sinh, đặc biệt coi trọng thời gian học ở nhà của học sinh và kiểm tra việc học ở nhà. Nêu những yêu cầu đối với người học, cần nghiêm túc, học bài và làm bài tập đầy đủ sau mỗi buổi học. Thành tích không thể may mắn, thành tích có được từ mồ hôi, công sức thực sự của cả thầy và trò. Dạy cách học, ghi nhớ cho học sinh Dạy kĩ năng nhận dạng vẽ các dạng biểu đồ cơ bản: tròn, đường, cột, miền, các kĩ năng khác..., trong đó mỗi dạng biểu đồ tối thiểu phải dạy 2 buổi. Dành thời gian thích đáng cho nhận dạng biểu đồ, vì theo kinh nghiệm, nếu nhận dạng sai biểu đồ thì học sinh khó đạt giải. Bên cạnh việc dạy đội tuyển theo thời khóa biểu của trường, bản thân còn ôn đội tuyển ngay trong các giờ tự học ở nội trú buổi chiều, buổi tối. Học sinh đội tuyển HSG tự học buổi tối Dạy theo chủ đề, bám sát khung chương trình của Sở GD&ĐT Bắc Giang. 1.6. Tạo điều kiện để học sinh trong đội tuyển học hỏi, giúp đỡ lẫn nhau. Đây là việc làm hết sức cần thiết vì “ Học thầy không tày học bạn”, những câu trả lời hay, những bài làm tốt điểm cao được đưa cho các bạn khác đọc tham khảo, rút kinh nghiệm. Những vướng mắc , băn khoăn của bản thân trong quá trình học có thể nhờ bạn giải đáp. Đặc biệt học sinh có thể lập thành từng nhóm 2-3 bạn. nêu ra vấn đề, 1 bạn trình bày, bạn khác góp ý bổ sung... Giáo viên cần yêu cầu học sinh chấm chéo bài của nhau để có thể thấy được cái được, chưa được của bạn, vì học sinh giỏi là người có thể phát hiện ra lỗi của bạn và có cách giải quyết, đồng thời có thể phát hiện ra sự sáng tạo của bạn trong quá trình làm bài. 1.7. Giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi phải tự học. Sự nhiệt huyết là chưa đủ, bồi dưỡng học sinh giỏi môn Địa lí đòi hỏi giáo viên phải biết tự học, tìm tòi, nâng cao kiến thức cụ thể như: - Học qua Internet, tham khảo đề, đáp án của các trường khác, các huyện khác, tỉnh khác, . - Mua sắm tài liệu ôn thi học sinh giỏi để tự học. - Chủ động tham gia các chuyên đề bộ môn do Phòng GD, Sở GD&ĐT tổ chức. - Học tập từ các phản hồi ngược của học sinh, từ sự sáng tạo của học sinh: Không được áp đặt đối với học sinh, không giáo viên nào trong quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi mà không mắc lỗi, vấn đề là dám thừa nhận lỗi trước học sinh, điều này không hề làm giảm uy tín mà ngược lại càng tăng thêm sự trân trọng, yêu quý của học sinh. Đồng thời phải thấy rằng việc học sinh có khả năng phát hiện ra lỗi của mình là học sinh thông minh, giỏi thật sự, đáng trân trọng và tự hào. - Tích cực tham gia thao giảng, dự giờ tại đơn vị để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, học hỏi được những phương pháp hay, hiệu quả trong quá trình dạy học. - Học tập các đơn vị mạnh trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi và một số đồng chí cốt cán có nhiều kinh nghiệm ở các trường trên địa bàn huyện như trường THCS Thị trấn II, THCS Thị trấn I, THCS Ngọc Lập qua các buổi trao đổi trực tuyến trên nhóm giáo viên Địa lí của huyện Hiệp Hòa. 1.8. Giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi là cầu nối giữa gia đình- Nhà trường và xã hội. Đối với các môn học khác được vào đội tuyển học sinh giỏi phụ huynh có thể đóng tiền học, có thể lai con đến nhà thầy học cách 3-4 km, có thể lai con đi học cả ban đêm không quản ngại hay nói cách khác phụ huynh rất quan tâm và coi trọng. Nhưng đối với môn Địa lí, giáo viên bồi dưỡng cần nắm được đặc điểm gia đình, phụ huynh học sinh, tốt nhất là chủ động gặp, trao đổi về tình hình học tập của học sinh, đề nghị gia đình tạo điều kiện về thời gian cho em ôn luyện, cũng như nhắc nhở việc học tập của em ở nhà. Thực tế trong quá trình dạy Đội tuyển học sinh nói rằng bố, mẹ em không cho học Địa, nhưng khi tôi đến gặp trực tiếp bố mẹ nói chuyện, phân tích chỉ ra những lợi thế khi học môn Địa, nói rõ cách học, thời gian học... thì đa số vui vẻ để con mình theo học . Giáo viên dạy đội tuyển cần thông báo với nhà trường những khó khăn của học sinh (nếu có) để nhờ Nhà trường, các thầy cô giáo hỗ trợ, chia sẻ. Giáo viên dạy đội tuyển chủ động phối hợp với đoàn thanh niên , công đoàn nhà trường để bảo vệ quyền lợi cho học sinh giỏi, ưu tiên trong việc hỗ trợ của công đoàn, đoàn thanh niên. Đặc biệt là những học sinh có hoàn cảnh khó khăn. 1.9. Lập ngân hàng đề. Giáo viên dạy bồi dưỡng cần lập ngân hàng đề bằng cách ra đề, đáp án theo cấu trúc của Tỉnh, theo nguyên tắc nặng hơn đề thi tỉnh, bám sát các nội dung đã học, phấn đấu mỗi năm ra khoảng 15- 20 đề có chất lượng. Có thể học, tham khảo đề, đáp án của Tỉnh, đề thi Địa lí vào chuyên Hùng Vương. Xin đề, đáp án của các đơn vị bạn có kết quả học sinh giỏi tốt , có những cốt cán mạnh như: Thành phố Việt Trì, Thanh Thủy, Cẩm Khê... vì mỗi đề thi là sự đầu tư công phu, sáng tạo của các đồng chí cốt cán. Vấn đề là giáo viên biết tiếp thu những cái hay, truyền cho học sinh của mình, khắc phục các điểm chưa tốt của đề, đáp án các đơn vị bạn. 2. Kết quả đạt được trong quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi Từ năm học 2020– 2021 đến năm học 2021 – 2022 bản thân đã thực hiện các biện pháp đã nêu trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi môn Địa lý khối 9 và kết quả đạt được là khả quan: học sinh giỏi cấp huyện, cấp Tỉnh tiếp tục được duy trì và mang tính chất bền vững đóng góp lớn vào thành tích chung của nhà trường, của huyện Hiệp Hòa, cụ thể theo bảng số liệu sau: Năm học Giải huyện Giải Tỉnh Ghi chú Chỉ có 1 2020-2021 1 giải khuyến khích 1 giải khuyến khích học sinh thi Chỉ có 1 2021-2022 1 giải khuyến khích học sinh thi III. KHẢ NĂNG ÁP DỤNG, NHÂN RỘNG SÁNG KIẾN Với đặc điểm tình hình học sinh tại trường THCS Thường Thắng nhận thức còn chậm, tỉ lệ học sinh khá giỏi thấp nhưng sáng kiến đã được áp dụng và mang lại hiệu quả khả quan. Các phương pháp trong sáng kiến có thể áp dụng rộng trong bồi dưỡng học sinh giỏi các khối 8, 9 ở nhà trường và các trường THCS khác trên địa bàn huyện Hiệp Hòa. CHƯƠNG III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ I. KẾT LUẬN Từ những kết quả đã đạt được trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi trong những năm qua, bản thân đã đúc kết được những kinh nghiệm sau: - Thứ nhất, người giáo viên cần kết hợp nhuần nhuyễn tất cả các biện pháp trên trong quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi. Tuy nhiên đối với mỗi đối tượng học sinh khác nhau, hoàn cảnh gia đình khác nhau người giáo viên cần có sự linh hoạt để đạt được kết quả cao nhất. Đây chính là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến thành công trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi. - Thứ hai, người giáo viên phải thật sự có tâm huyết với công tác bồi dưỡng học sinh giỏi.Từ sự tâm huyết, nhiệt tình đó người giáo viên mới có thể từng bước thực hiện công việc bồi dưỡng vì danh dự, vì chuyên môn, không tính toán lợi ích kinh tế... Tuy nhiên, với vai trò là người giáo viên bồi dưỡng bản thân chưa thật sự hài lòng với kết quả trên vì tuy hàng năm có học sinh đạt giải cấp huyện, tỉnh nhưng số lượng học sinh đạt giải chưa cao như mong muốn. Do vậy, trong những năm học tiếp theo bản thân sẽ đẩy mạnh ứng dụng sáng kiến kinh nghiệm này, không ngừng học hỏi để công tác bồi dưỡng ở trường THCS Thường Thắng học sinh giỏi ngày càng ổn định, đóng góp lớn hơn nữa vào thành tích của nhà trường và của huyện nhà. Qua một số kinh nghiệm bồi dưỡng học sinh giỏi môn Địa lý khối 9 của bản thân mong rằng các thầy cô đã, đang và sẽ bồi dưỡng học sinh giỏi nói chung và môn Địa lý nói riêng có thể xem đây là một tài liệu tham khảo, một kênh thông tin hữu ích để phục vụ cho việc bồi dưỡng học sinh giỏi để tô thắm thêm kết quả bồi dưỡng học sinh giỏi, góp phần làm rạng rỡ thêm thành tích dạy và học của ngành giáo dục. II. KIẾN NGHỊ Nhà trường cần quan tâm, có chế độ ưu đãi thực sự xứng đáng đối với giáo viên bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi. Cần làm tốt công tác xã hội hoá giáo dục để đầu tư nhiều hơn về điều kiện vật chất, kinh phí cho công tác bồi dưỡng học sinh giỏi trong các nhà trường. Không ngừng yêu cầu giáo viên tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao năng lực chuyên môn, tích cực đổi mới phương pháp giảng dạy để phát huy tốt năng lực học của trò và năng lực sư phạm của thầy. TÁC GIẢ SÁNG KIẾN TRỊNH THỊ HÀ

File đính kèm:

  • docxgiai_phap_nang_cao_chat_luong_hoc_sinh_gioi.docx