Giáo án Ngữ văn 9 - Tuần 25, Chủ đề 5: Luyện tập Làm văn nghị Luận văn học

pdf21 trang | Chia sẻ: KA KA | Ngày: 15/01/2026 | Lượt xem: 2 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Giáo án Ngữ văn 9 - Tuần 25, Chủ đề 5: Luyện tập Làm văn nghị Luận văn học, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tuần 25 113 Luyện tập làm bài nghị luận về đoạn thơ, bài thơ (t1) 114 Luyện tập làm bài nghị luận về đoạn thơ, bài thơ ( t2) 115 Luyện tập làm bài nghị luận về đoạn thơ, bài thơ(t3) 116 Luyện tập làm bài nghị luận về đoạn thơ, bài thơ (t4) 117 Luyện tập làm bài nghị luận về đoạn thơ, bài thơ (t5) 118 Luyện tập làm bài nghị luận về đoạn thơ, bài thơ (t6) 119 Luyện nói : nghị luận về đoạn thơ, bài thơ 120 Luyện nói: nghị luận về đoạn thơ, bài thơ CHỦ ĐỀ 5: LUYỆN TẬP LÀM VĂN NGHỊ LUẬN VĂN HỌC ( TIẾP ) TIẾT 113- 118: LUYỆN TẬP LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VỀ ĐOẠN THƠ, BÀI THƠ I.Mục tiêu cần đạt 1.Năng lực: - Năng lực chung: năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực làm việc nhóm. - Năng lực chuyên biệt: + Đọc hiểu VB: nhận diện được bài văn nghị luận về đoạn thơ, bài thơ và kĩ năng làm bài nghị luận thuộc dạng này. Đưa ra những nhận xét đánh giá về đoạn thơ hoặc bài thơ đã học trong chương trình. - HS năm được những yêu cầu đối với bài văn nghị luận về đoạn thư, bài thơ. Cách tạo lập văn bản nghị luận về đoạn thơ, bài thơ -HS thành thạo các bước làm bài, viết được một bài văn hoàn chỉnh NL đoạn thơ, bài thơ 2/ Phẩm chất: -Chăm học, nhận diện kiểu bài nghị luận đoạn thơ, bài thơ II. CHUẨN BỊ DẠY HỌC VÀ HỌC LIỆU: 1.Chuẩn bị của giáo viên: -Lập kế hoạch dạy học, - Học liệu: tài liệu, máy chiếu, các bài thơ đã học 2. Chuẩn bị của học sinh: Nghiên cứu bài học, chuẩn bị sản phẩm theo sự phân công. III. TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC HĐ1: Khởi động HĐ 2. Luyện tập Tiết 113 PHƯƠNG PHÁP NỘI DUNG ? Ôn lại khái niệm : Thế nào là văn nghị luận về đoạn thơ, bài thơ ? I. LÍ THUYẾT: - Hs : Nhắc lại. - Khái niệm: ? Những yêu cầu đối với bài văn nghị luận là gì ? - Hs : Nhắc lại. - Yêu cầu. ? Dàn bài chung của bài văn này ? - Hs: Nhắc lại. - Gv kiểm tra phần chuẩn bị bài ở nhà - Dàn bài. của hs. - Gv : đưa đề -_> hs quan sát và thảo luận II. LUYỆN TẬP: - GV cho Hs thảo luận đại diện lên bảng, trình bày, nhận II. LUYỆN TẬP: Đề 1: ) Cảm nhận về đoạn thơ sau: Ta hát bài ca gọi cá vào, Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao. Biển cho ta cá như lòng mẹ Nuôi lớn đời ta tự buổi nào. Sao mờ, kéo lưới kịp trời sáng, Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng, Vảy bạc đuôi vàng loé rạng đông, Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng. Câu hát căng buồm với gió khơi, Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời. Mặt trời đội biển nhô màu mới Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi. (Trích Đoàn thuyền đánh cá - Huy Cận, Ngữ văn 9 Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam 2017) - Gv: hưỡng dẫn Hs xây dựng dàn ý 1. Mở bài: – Huy Cận là một trong những nhà thơ tiêu biểu cho nền thơ ca hiện đại Việt Nam – Giữa năm 1958, ông có chuyến đi dài ngày thực tế ở Quảng Ninh. Từ chuyến đi thực tế này ông viết Đoàn thuyền đánh cá. – Hai khổ thơ cuối, tác giả khắc họa hình ảnh tráng lệ, thể hiện sự hài hòa giữa thiên nhiên và con người lao động, bộc lộ niềm vui, niềm tự hào của nhà thơ trước đất nước và cuộc sống. " Sao mờ, kéo lưới kịp trời sáng Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng Vẩy bạc đuôi vàng lóe rạng đông Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng Câu hát căng buồm với gió khơi, Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời. Mặt trời đội biển nhô màu mới Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi” • Thân bài: * Vẻ đẹp hài hòa giữa thiên nhiên tráng lệ và người lao động: • Ra đi từ lúc hoàng hôn buông xuống, sóng cài then, đêm sập cửa, vũ trụ nghĩ ngơi, nay trở về bình minh đang lên rạng rỡ. Trước hết, đó là cảnh khẩn trương, hối hả chuẩn bị cho sự trở về: " Sao mờ, kéo lưới kịp trời sáng Ta kéo xoăn tay chùm cá nặn Vẩy bạc đuôi vàng lóe rạng đông Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng” Tất cả tinh thần tranh thủ, hối hả được diễn tả qua từ "kịp” và hình ảnh "kéo xoăn tay” một hình ảnh thơ khỏe khoắn gợi tả một công việc lao động hăng say, vất vả nhưng lấp lánh niềm vui bởi thành quả lao động mà họ đạt được "chùm cá nặng”. Xoa tay đứng nhìn đầy chặt khoang những cá nhụ, cá chim, cá đé vẫy đuôi ánh sáng bình minh lấp lánh ánh bạc. -Tinh thần khẩn trương, hối hả của người ngư dân lúc kéo lưới “sao mờ kéo lưới kịp trời sáng” -Sự khỏe mạnh của người lao động qua hình ảnh ẩn dụ "ta kéo xoăn tay chùm cá nặng” -Niềm vui tươi trong lao động qua những câu thơ tả cảnh đẹp, đầy sáng tạo. * Cảnh đoàn thuyền buồm căng gió trở về bến: -Công việc đánh cá kết thúc, khi mà: lưới xếp, buồm lên đón nắng hồng” ấy là lúc đoàn thuyền trở về: "Câu hát căng buồm với gió khơi, Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời. Mặt trời đội biển nhô màu mới Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi” – Chi tiết "đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời” và "mặt trời đội biển nhô màu mới” là chi tiết giàu ý nghĩa. Hình ảnh ”mặt trời” là hình ảnh ẩn dụ cho một tương lai xán lạn. Và con thuyền chạy đua về tương lai là con thuyền của chủ nghĩa xã hội đang trên bước đường xây dựng chủ nghĩa xã hội hứa hẹn thành công. 3. Kết bài: – Bài "Đoàn thuyền đánh cá” là một trong những bài thơ hay của phản ánh không khí lao động hăng say, náo nức của những người lao động đánh cá trên biển trong không khí của những ngày đất nước xây dựng sau giải phóng. – Bài thơ có nhiều sáng tạo trong việc xây dựng hình ảnh bằng liên tưởng, tưởng tượng độc đáo và vận dụng nhiều biện pháp tu từ thành công. CHUYỂN TIẾT 114 Đề 2 : Cảm nhận của em về đoạn thơ sau : “Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy Võng mắc chông chênh đường xe chạy Lại đi, lại đi trời xanh thêm. Không có kính rồi xe không có đèn Không có mui xe, thùng xe có xước Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước Chỉ cần trong xe có một trái tim.” (Trích“Bài thơ về tiểu đội xe không kính” - Phạm Tiến Duật) - Gv: hưỡng dẫn Hs xây dựng dàn ý Bài viết phải cơ bản đáp ứng được những yêu cầu sau đây: * Nội dung cơ bản : - Trong bom rơi,những chàng trai lái xe không kính hợp lại với nhau thành một tiểu đội, thành những người có chung chí hướng. Nhưng hơn thế, mỗi km đường đi lại thành km tình nghĩa bởi họ không chỉ là đồng chí, họ còn là anh em ruột thịt: “Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy” - Khổ thơ đã ghi lại những giây phút dừng chân đầy tình yêu thương, đầm ấm của những người lính lái xe. Sau những giây phút làm nhiệm vụ sau buồng lái, vượt qua bom đạn kẻ thù, họ dừng chân cùng nhau chia sẻ từng bát cơm, hạt gạo như một gia đình. Hình ảnh chiếc bếp Hoàng Cầm ấm cúng và những người lính ngồi cạnh nhau nghỉ ngơi khiến lòng ta bình yên lại. Bởi giữa cái khốc liệt của chiến tranh thì khoảnh khắc ấy đẹp quá! Nó khiến người ta có thêm niềm tin và động lực để đi tiếp: Võng mắc chông chênh đường xe chạy Lại đi lại đi trời xanh thêm - Trên những chiếc xe không kính là cả bầu trời bao la rộng lớn chở che cho các anh. Chúng ta không thể quên những chiếc võng mắc trên thùng xe, các anh nằm chợp mắt hay kể chuyện vặt, hay đánh đàn và hát rộn vang theo nhịp của những bánh xe lăn tròn. Cuộc chiến đấu gian nan vất vả của những người lính lái xe trong kháng chiến chống Mỹ được Phạm Tiến Duật khắc họa thật chân thực và sống động biết mấy. Chỉ hai từ “chông chênh” mà cho người đọc cảm thấy như chính mình đang cùng ngồi với các anh trên chiếc võng Trường Sơn. - Từ đầu bài thơ đến tận khổ cuối, chúng ta thấy xuất hiện rất nhiều những từ “không” và đến khổ cuối thì điệp khúc “không” đó được nhấn mạnh liên tiếp: “Không có kính rồi xe không có đèn Không có mui xe, thùng xe có xước” - Không chỉ “không có kính”, những chiếc xe trong kháng chiến chống Mỹ còn thiếu thốn đủ thứ: từ đèn tới mui xe, thùng xe cũng xước hết vì những hủy hoại tàn khốc của bom đạn chiến tranh. Nó tố cáo bản chất ác liệt của chiến tranh và đồng thời cũng làm nổi bật trước mắt người đọc một cái “có” ngời sáng toàn bài thơ: Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước Chỉ cần trong xe có một trái tim - Đọng lại cuối bài thơ là hình ảnh “trái tim” – biểu tượng cho tình yêu Tổ quốc, cho khát vọng chiến đấu bảo vệ độc lập tự do, thống nhất nước nhà của thế hệ trẻ Việt Nam thời chống Mỹ. Tất cả những khó khăn, gian khổ kia chẳng là gì so với lòng nhiệt huyết và khát vọng sục sôi của những người thanh niên yêu nước. Nó chỉ càng mài giũa thêm cho họ sức mạnh để chiến thắng tất cả để hành động, để tiến lên phía trước như những chiếc xe không ngừng chi viện cho miền Nam thân yêu. * Nghệ thuật cơ bản : - Giọng thơ ngang tàng, có cả chất nghịch ngợm, rất phù hợp với những đối tượng miêu tả (những chàng trai lái xe trên những chiếc xe không kính). Giọng điệu ấy làm cho lời thơ gần với lời văn xuôi, lời đối thoại, lời nói thường ngày nhưng vẫn thú vị và giàu chất thơ (Chất thơ ở đây là từ những hình ảnh độc đáo, từ cảm hứng về vẻ hiên ngang, dũng cảm, sự sôi nổi trẻ trung của những người lính lái xe, từ ấn tượng cảm giác được miêu tả cụ thể, sống động và gợi cảm ) - Thể thơ: Kết hợp linh hoạt thể thơ 7 chữ và 8 chữ, tạo cho bài thơ có điệu thơ gần với lời nói tự nhiên, sinh động. Những yếu tố về ngôn ngữ và giọng điệu bài thơ đã góp phần trong việc khắc họa hình ảnh người chiến sĩ lái xe trên tuyến đường Trường Sơn một cách chân thực và sinh động. * Đánh giá, nâng cao : - Toàn bộ bài thơ mà đặc biệt là hai khổ thơ cuối đã nhắc nhiều tới cái khó khăn, gian khổ của người lính lái xe, nhưng cái đọng lại lại là niềm tin, là tình yêu miền Nam, tình yêu đất nước. - Bài thơ làm sáng ngời chất lính rất hồn nhiên, phóng khoáng của thế hệ trẻ Việt Nam thời chống Mỹ. Phạm Tiến Duật bằng chính tài năng và những trải nghiệm sâu sắc của bản thân đã truyền cho thế hệ trẻ ngày ấy niềm lạc quan, yêu đời để chiến đấu và chiến thắng. - Đến ngày hôm nay, tuy chiến tranh đã lùi xa, nhưng “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” vẫn khiến chúng ta yêu mến vô cùng. Bởi nhìn vào đó, chúng ta thấy được không khí của cả thời chống Mỹ, nhìn vào đó thấy được vẻ đẹp tâm hồn của thế hệ cha anh, để tự hối thúc bản thân sống có ích hơn, sống lạc quan hơn! Tiết 115: Hs hoàn thiện đề số 2 _ Gv: Quan sát , kiểm tra quá trình các em làm bài ===================== CHUYỂN TIẾT 116 -Gv: yêu cầu Hs xây dựng dàn ý đề số 3 Cảm nhận về ước nguyện của nhà thơ Thanh Hải trong hai khổ thơ sau: Ta làm con chim hót Ta làm một cành hoa Ta nhập vào hòa ca Một nốt trầm xao xuyến. Một mùa xuân nho nhỏ Lặng lẽ dâng cho đời Dù là tuổi hai mươi Dù là khi tóc bạc. Khúc Nam ai, Nam bình Nước non ngàn dặm mình Nước non ngàn dặm tình Nhịp phách tiền đất Huế (Trích Mùa xuân nho nhỏ - Thanh Hải, Ngữ văn 9, Tập hai, NXB Giáo dục ) - Hs : xây dựng dàn ý - Gv: quan sát, nhận xét A.Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận B.Thân bài 1.Khái quát về tác phẩm 2.Cảm nhận đoạn thơ 2.1.Nhắc lại nội dung 3 khổ thơ đầu Ở 3 khổ thơ đầu, bằng biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa, điệp ngữ, nghệ thuật đảo ngữ cùng các từ ngữ, hình ảnh giàu giá trị gợi tả, lời thơ đã giúp người đọc cảm nhận được những cảm xúc của nhà thơ trước mùa xuân của thiên nhiên, của đất nước. Đó là niềm say sưa ngây ngất trước vẻ đẹp mộng mơ, dịu dàng của bức tranh thiên nhiên xứ Huế, là niềm tin, niềm vui, niềm tự hào khi đất nước bước vào xuân. Và đằng sau những vần thơ ấy, ta nhận ra ở Thanh Hải là niềm yêu đời, yêu cuộc sống, là tình yêu tha thiết với thiên nhiên, với quê hương đất nước. 2.2. Ước nguyện của nhà thơ LĐ1:, Từ những cảm xúc về mùa xuân, tác giả đã chuyển mạch thơmột cách tự nhiên sang bày tỏ những suy ngẫm và tâm niệm của mình về lẽ sống,về ý nghĩa giá trị của cuộc đời mỗi con người: LĐ2: Lẽ sống của Thanh Hải còn được thể hiện trong những vần thơ sâu lắng: “ Một mùa xuân nhỏ Lặng lẽ dâng cho đời Dù là tuổi hai mươi Dù là khi tóc bạc.” -LĐ3: Bài thơ kết thúc bằng sự trở về với những cảm xúc thiết tha, tự hào về quê hương, đất nước qua điệu dân ca xứ Huế. Mùa xuân – ta xin hát Câu Nam ai, Nam bình Nước non ngàn dặm mình Nước non ngàn dặm tình Nhịp phách tiền đấtHuế. 3.Đánh giá Như vậy, bằng biện pháp tu từ ẩn dụ, điệp ngữ, cùng các từ ngữ, hình ảnh giàu giá trị gợi tả, biểu cảm, ba khổ thơ trên đã giúp người đọc cảm nhận được những ước nguyện của nhà thơ Thanh Hải. Đó là ước nguyện được hòa nhập và dâng hiến để làm đẹp cho cuộc đời. Và đằng sau những vần thơ ấy, ta nhận ra ở Thanh Hải là niềm yêu đời, yêu cuộc sống, là tình yêu tha thiết, sự gắn bó sâu nặng với quê hương đất nước. Tình cảm ấy thật đáng trân trọng biết bao. C. Kết bài - Đánh giá chung về đoạn thơ - Đoạn thơ khơi gợi trong em những tình cảm, trách nhiệm gì? Em học được bài học gì? -Gv: về nhà các em hoàn thiện hoàn chỉnh đề 3 ============= Hết tiết 116 chuyển tiết 117 - Gv: yêu cầu Hs xây dựng dàn ý đề 4 Đề bài : Cảm nhận của em về những điều cha nói với con trong đoạn thơ sau: Chân phải bước tới cha Chân trái bước tới mẹ Một bước chạm tiếng nói Hai bước tới tiếng cười Người đồng mình yêu lắm con ơi Đan lờ cài nan hoa Vách nhà ken câu hát Rừng cho hoa Con đường cho những tấm lòng Cha mẹ mãi nhớ về ngày cưới Ngày đầu tiên đẹp nhất trên đời. - Dàn ý A.Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận B.Thân bài 1.Khái quát về tác phẩm + nội dung đoạn thơ phía trước ( nếu khổ thơ nằm ở phần giữa hoặc cuối ) - Bài thơ ra đời vào năm 1980 – khi đời sống tinh thần và vật chất của nhân dân cả nước nói chung, nhân dân các dân tộc thiểu số ở miền núi nói riêng vô cùng khó khăn, thiếu thốn. - Nói bài thơ này, Y Phương tâm sự: “Đó là thời điểm đất nước ta gặp vô vàn khó khăn Bài thơ là lời tâm sự của tôi với đứa con gái đầu lòng. Tâm sự với con, còn là tâm sự với chính mình. Nguyên do thì nhiều, nhưng lí do lớn nhất để bài thơ ra đời chính là lúc tôi dường như không biết lấy gì để vịn, để tin. Cả xã hội lúc bấy giờ đang hối hả, gấp gáp kiếm tìm tiền bạc. Muốn sống đàng hoàng như một con người, tôi nghĩ phải bámvào văn hóa. Phải tin vào những giá trị tích cực, vĩnh cửu của văn hóa. Chính vì thế, qua bài thơ ấy, tôi muốn nói rằng chúng ta phải vượt qua sự ngặt nghèo,đói khổ bằng văn hóa”. -> Từ hiện thức khó khăn ấy, nhà thơ viết bài thơ này để tâm sự với chính mình, động viên mình, đồng thời để nhắc nhở con cái sau này. 2.Cảm nhận về những lời nhắn nhủ của Y phương( phân tích nội dung của đoạn thơ ) LĐ1. Nhắc nhở con về cội nguồn gia đình - Đến với bài thơ, ta thấy điều đầu tiên Y Phương muốn nói với con chính là cội nguồn sinh dưỡng mỗi con người – tình yêu thương vô bờ bến mà cha mẹ dành cho con – tình gia đình: Chân phải bước tới cha Chân trái bước tới mẹ Một bước chạm tiếng nói Hai bước tới tiếngcười. LĐ.2.Nhắc nhở con về cội nguồn quê hương 3.Đánh giá nghệ thuật , nội dung Bằng những hình ảnh thơ đẹp,giản dị bằng cách nói cụ thể, độc đáo mà gần gũi của người miền núi, người cha muốn nói với con rằng:vòng tay yêu thương của cha mẹ, gia đình,nghĩa tình sâu nặng của quê hương làng bản- đó là cái nôi đã nuôi con khôn lớn, là cội nguồn sinh dưỡng của con. Con hãy khắc ghi điều đó. Và sau mỗi lời thơ ấy, người đọc dễ dàng nhận ra được tình yêu thương vô bờ bến mà Y Phương dành cho cô con gái đầu lòng, dành cho Trùng Khánh quê hương ông. Tình cảm đẹp đẽ ấy thật đáng trân trọng. C. Kết bài - Đánh giá chung về đoạn thơ - Đoạn thơ khơi gợi trong em những tình cảm, trách nhiệm gì? Em học được bài học gì? TIẾT 118 Gv: yêu cầu hs xây dựng dàn ý đề sau Đề bài : Cảm nhận của em về đoạn thơ sau: “Quê hương anh nước măn đồng chua Làng tôi ngheo đất cầy lên sỏi đá. Anh với tôi đôi người xa lạ Tự phương trời chẳng hẹ quen nhau, Súng bên súng đầu sát bên đầu, Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ. Đồng chí! (Ngữ văn 9, tập I, tr.128-129, NXB Giáo dục 2016) Dàn ý I.Mở bài: giới thiệu vấn đề nghị luận II. Thân bài: 1.Giới thiệu khái quát về bài thơ Bài thơ “ĐỒng chí” của Chính Hữu được sáng tác vào đầu năm 1948 khi cuộc kháng chiến chống Pháp đang diễn ra vô cùng ác liệt. Sau khi cùng đồng đội tham gia chiến đấu trong chiến dịch Việt Bắc (thu đông 1947) đánh bại cuộc tiến công quy mô lớn của giặc Pháp lên chiến khu Việt Bắc, Chính Hữu bị ốm nặng được đưa về trạm quân y điều trị. Đơn vị cử một người đồng đội ở lại để chăm sóc ông. Cảm kích trước tấm lòng của người đồng đội ấy, ông đã sáng tác bài thơ này. Bài thơ đã giúp người đọc hiểu thêm về một tình cảm cao đẹp- tình đồng chí và vẻ đẹp tâm hồn của những người lính bộ đội cụ Hồ. 2.Cảm nhận đoạn thơ Lđ1: Cơ sở thứ nhất: Lòng đồng cảm giai cấp Lđ2: Cở sở thứ hai: Cùng chung lí tưởng, nhiệm vụ và lòng yêu nước. *Liên hệ: Nhớ - Hồng Nguyên Lời thơ khiến ta nhớ tới những vần thơ của Hồng Nguyên trong bài thơ “Nhớ” Lũ chúng tôi Bọn người tứ xứ, Gặp nhau hồi chưa biết chữ Quen nhau từ buổi “Một hai” Súng bắn chưa quen, Quân sự mươi bài Lòng vẫn cười vui kháng chiến Lđ3: Cơ sở thứ ba: Tình đồng chí còn được nảy nở từ trong những gian lao vất vả. Lđ4: Khổ thơ được kết thúc bằng một câu thơ hết sức đăc biệt Đồng chí! Câu thơ chỉ có hai tiếng và kết thúc bằng dấu chấm than tạo một nốt nhấn, vang lên như một sự phát hiện, lời khẳng định. Đồng thời như một chiếc bản lề khép mở sự lí giải cội nguồn của tình đồng chí ở sáu câu thơ trước với những biểu hiện, sức mạnh của tình đồng chí trong những câu thơ tiếp theo của bài thơ. Nếu coi bài thơ như một cơ thể sống thì hai tiếng “Đồng chí” như một trái tim hồng nuôi sống cả bài thơ. Nó có sức vang dội và ngân nga mãi trong lòng người đọc. 3.Đánh giá: nghệ thuật + nội dung Như vây, bằng những ngôn từ giản dị, mộc mạc,chân thực, tự nhiên mà hàm súc, cô đọng, hình ảnh giản dị và giàu sức gợi, cảm xúc dồn nén, nhiều phép tu từ đặc sắc, đoạn thơ đã làm nổi bật những cơ sở hình thành tình đồng chí. Tình đồng chí là một tình cảm cao đẹp. Nó được hình thành từ long đồng cảm giai cấp, từ sự đồng điệu về nhiệm vụ, lí tưởng và hơn cả là được nảy nở từ trong những gian lao vất vả .Thông qua đoạn thơ, chúng ta nhận ra ở nhà thơ Chính Hữu là một sự trân trọng đặc biệt dành cho tình cảm cao đẹp ấy và cũng là dành cho những người lính bộ đội cụ Hồ. II.Kết bài: - Đánh giá chung về đoạn thơ - Đoạn thơ khơi gợi trong em những tình cảm, trách nhiệm gì? Em học được bài học gì? ĐỀ . Cảm nhận của em về những điều cha nói với con trong đoạn thơ sau: Người đồng mình thương lắm con ơi Cao đo nỗi buồn Xa nuôi chí lớn Dẫu làm sao thì cha vẫn muốn Sống trên đá không chê đá gập ghềnh Sống trong thung không chê thung nghèo đói Sống như sông như suối Lên thác xuống ghềnh Không lo cực nhọc Người đồng mình thô sơ da thịt Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương Còn quê hương thì làm phong tục Con ơi tuy thô sơ da thịt Lên đường Không bao giờ nhỏ bé được Nghe con. Dàn ý A.Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận B.Thân bài 1.Khái quát về tác phẩm - Bài thơ ra đời vào năm 1980 – khi đời sống tinh thần và vật chất của nhân dân cả nước nói chung, nhân dân các dân tộc thiểu số ở miền núi nói riêng vô cùng khó khăn, thiếu thốn. -> Từ hiện thức khó khăn ấy, nhà thơ viết bài thơ này để tâm sự với chính mình, động viên mình, đồng thời để nhắc nhở con cái sau này. 2.Cảm nhận về những lời nhắn nhủ của Y phương 2.1.Nhắc lại nội dung đoạn 1 ở khổ thơ đầu, bằng những hình ảnh thơ đẹp,giản dị bằng cách nói cụ thể, độc đáo mà gần gũi của người miền núi, Y Phương đã nói với con về cội nguồn sinh dưỡng. Ông muốn nói với con rằng gia đình và quê hương chính là cái nôi đầu tiên của cuộc đời mỗi con người, là nơi ta được lớn lên, được yêu thương che chở. Từ đó lời thơ nhắc nhở người đọc cần biết trân trọng gia đình và quê hương của chính mình. 2.1. Nhắc nhở con về những phẩm chất đẹp đẽ của người đồng mình - Trong cái ngọt ngào của kỉ niệm về gia đình và quê hương,người cha đã tha thiết nói với con về những phẩm chất tốt đẹp của người đồng mình. a. Người đồng mình biết lo toan và giàu mơ ước ( Giàu ý chí, nghị lực ). b. Người đồng mình dù sống trong nghèo khổ, gian nan vẫn thủy chung gắn bó với quê hương, cội nguồn. Sống trên đá không chê đá gập gềnh Sống trong thung không chê thung nghèo đói Sống như sông như suối Lên thác xuống ghềnh Không lo cực nhọc c. Người đồng mình có ý thức tự lập, tự cường và tinh thần tự tôn dân tộc: - Phẩm chất của người của con người quê hương còn được người cha ca ngợi qua cách nói đối lập tương phản giữa hình thức bên ngoài và giá trị tinh thần bên trong, nhưng rất đúngvới người miền núi: Người đồng mình thô sơ da thịt Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con 3.Đánh giá Bằng giọng thơ vừa thiết tha, trìu mến vừa trang nghiêm và các hình ảnh thơ cụ thể, chọn lọc, đoạn thơ đã giúp người đọc cảm nhận được trọn vẹn những phẩm chất đẹp đẽ của người đồng mình. Người đồng minh là những người giàu ý chí nghị lực và niềm tin, luôn thủy chung tình nghĩa, phóng khoáng lãng mạn .Và đằng sau những vần thơ ấy, ta nhận ra tình yêu, niềm tự hào và sự gắn bó sâu nặng của nhà thơ với con người quê hương mình. Tình cảm ấy thật đáng trân trọng. C. Kết bài - Đánh giá chung về đoạn thơ - Đoạn thơ khơi gợi trong em những tình cảm, trách nhiệm gì? Em học được bài học gì? Đề : Cảm nhận của em về nhan sắc và tài năng của Thúy Kiều trong đoạn thơ sau: Kiều càng sắc sảo mặn mà, So bề tài sắc lại là phần hơn. Làn thu thủy nét xuân sơn, Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh. Một hai nghiêng nước nghiêng thành, Sắc đành đòi một tài đành họa hai. Thông minh vốn sẵn tính trời, Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm. Cung thương làu bậc ngũ âm, Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương. Khúc nhà tay lựa nên chương Một thiên Bạc mệnh lại càng não nhân. A.Mở bài: Giới thiệu tác giả, tác phẩm, đoạn trích, 12 câu thơ B.Thân bài 1.Khái quát về đoạn trích: Số câu trong đoạn trích, thuộc phần nào của tác phẩm? Nội dung chính là gì? Tham khảo: Đoạn trích “Chị em Thúy Kiều” gồm 24 câu thơ lục bát, nằm ở phần 1 “Gặp gỡ và đính ước” của tác phẩm “Truyện Kiều”.. 2.Cảm nhận về nhan sắc và tài năng của Thúy Kiều 2.1. Khái quát nội dung và nghệ thuật ở 8 câu đầu Ở phần đầu của đoạn trích, Nguyễn Du đã rất thành công khi sử dụng bút pháp ước lệ tượng trưng để giới thiệu khái quát về hai chị em Thúy Kiều đồng thời miêu tả Thúy vân rất chi tiết cụ thể. Thông qua những câu thơ ấy, ta nhận ra ở hai nàng là cốt cách thanh tao cao quý và một tâm hồn trắng trong tinh sạch. Và đến 12 câu thơ tiếp, tác giả dành hết tài năng, tình cảm và tâm huyết của mình để miêu tả Thúy Kiều 2.2. Cảm nhận 12 câu tả Kiều * giới thiệu TK Sau những câu thơ miêu tả Thúy Vân, tác giả tập trung miêu tả Thúy Kiều với 12 câu thơ lục bát. Chỉ nhìn vào số lượng câu thơ miêu tả Kiều, ta có thể thấy ND đã dành cho nhân vật này mốt sự ưu ái đặc biệt. Nếu như tả Thúy Vân tác giả mượn cụm từ “trang trọng khác vời” thì khi tả Kiều, Nguyễn Du viết: “Kiều càng sắc sảo mặn mà So bề tài sắc lại là phần hơn” + Ở đây tác giả đã sử dụng thủ pháp đòn bẩy để miêu tả Thúy Kiều. thông qua thủ pháp nghệ thuật ấy, Nguyễn Du muốn khẳng định Vân đã đẹp Kiều còn đẹp hơn đồng thời miêu tả như thế cũng là để vẻ đẹp của Thúy Vân không bị lu mờ trước vẻ đẹp của Thúy Kiều. Điểm này Nguyễn Du thật tinh tế. + Thúy Kiều mang vẻ đẹp “mặn mà,sắc sảo” tức là ở nàng vừa có cả sự đằm thắm dịu dàng, vừa có cả sự tinh anh về trí tuệ. Vẻ đẹp ấy được Nguyễn Du miêu tả ở cả hai phương diện là tài và sắc. *Nhan sắc của Thúy Kiều được tác giả miêu tả ở 3 câu thơ lục bát: “Làn thu thủy nét xuân sơn Hoag hen thua thắm liễu hờn kém xanh Một hai nghiêng ngước nghiêng thành” * Tuy nhiên, người thiếu nữ ấy không chỉ có nhan sắc mà tài năng cũng xuất chúng hơn người. Tài năng ấy được Nguyễn Du diễn tả ở bảy câu thơ tiếp: “Thông minh vốn sẵn tính trời Pha nghề thi hoạ đủ mùi ca ngâm Cung thương, lầu bậc ngũ âm Nghề riêng ăn đứt Hồ cầm một trương. Khúc nhà tay lựa nên chương Một thiên "bạc mệnh" lại càng não nhân” 3.Đánh giá nghệ thuật và nội dung ND đã thực sự rất thành công khi miêu tả Thúy Kiều trong đoạn thơ này. Không cầu kì, không kĩ lưỡng, chỉ với một vài thủ pháp nghệ thuật, Nguyễn Du đã cho ta thấy được Thúy Kiều là một người con gái tài sắc vẹn toàn. Nhưng theo thuyết “Hồng nhan bạc phận, tài mệnh tương đố” thì cuộc đời nàng hẳn sẽ khó tránh khỏi những tai ương, nghiệt ngã. Và đằng sau bức chân dung tuyệt sắc ấy, ta không khó để cảm nhận được một sự trân trọng đặc biệt của nhà thơ dành cho Thúy Kiều nói riêng và nói chung là dành cho những người phụ nữ trong xã hội phong kiến. C.Kết bài - Đánh giá chung về đoạn thơ - Đoạn thơ khơi gợi trong em những tình cảm? Em học được bài học gì? HĐ: Vận dụng: -Gv: Củng cố Kt trọng tâm, về nghị luận đoạn thơ, bài thơ - Xây dựng dàn ý và hoàn thiện đề sau: Cảm nhận của em về đoạn thơ sau: Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam Bão táp mưa sa, đứng thẳng hàng. Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân... ● HDVN: Hoàn thiện các đề còn lại thành bài hoàn chỉnh Tổ chuyên môn duyệt TT Ngày 27/02/2023 Ngô Thị Vân Anh ======================================================= TIẾT 119, 120 LUYỆN NÓI NGHỊ LUẬN VỀ BÀI THƠ, ĐOẠN THƠ I- MỤC TIÊU. 1. Năng lực - Năng lực chung: năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực làm việc nhóm. - Năng lực chuyên biệt: + Đọc hiểu VB: nhận diện được bài văn nghị luận về đoạn thơ, bài thơ và kĩ năng làm bài nghị luận thuộc dạng này. Đưa ra những nhận xét đánh giá về đoạn thơ hoặc bài thơ đã học trong chương trình. - HS năm được những yêu cầu đối với bài văn nghị luận về đoạn thư, bài thơ. Cách tạo lập văn bản nghị luận về đoạn thơ, bài thơ + Nói, nghe: HS diễn đạt mạch lạc các nội dung kiến thức, có kĩ năng phối hợp giữa ngôn ngữ nói và ngôn ngữ cơ thể thông qua sự biểu cảm của nét mặt. HS nghe: hiểu được nội dung bài nói, biết phát hiện ra những ưu điểm và hạn chế để nhận xét, góp ý. 2/ Phẩm chất: Phẩm chất: Chăm chỉ, trách nhiệm giáo dục học sinh ý thức học tập, rèn kĩ năng nói lập luận một vấn đề. II- THIẾT BỊ VÀ HỌC LIỆU. 1. Giáo viên: Bài soạn, máy tính, ti vi, PHT. 2. Học sinh: Hoàn thành PHT, lập dàn bài chuẩn bị cho bài luyện nói III- TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC. *HĐ 1- MỞ ĐẦU. 1. Ổn định. 2. Kiểm tra đầu giờ: Việc chuẩn bị bài của học sinh. H: Nêu cách làm bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ ? 3. Bài mới: GV giới thiệu bài. Ở các tiết học trước, các em đã được học về cách làm bài NL về 1 đoạn thơ, bài thơ. Để củng cố tốt hơn phần lí thuyết đã học và để rèn kĩ năng trình bày một vấn đề trước lớp, trước tập thể. Hôm nay chúng ta sẽ cùng nhau học giờ luyện nói *HĐ 2- HÌNH THÀNH KIẾN THỨC MỚI. Tiết 119 Hoạt động của GV- HS Kiến thức cần đạt TIẾT 1. HDHS báo cáo I. Đề bài: nội dung đã chuẩn bị ở nhà . Bếp lửa sưởi ấm 1 đời - Bàn về bài bếp lửa của Bằng Việt. - Gọi hs đọc đề bài, hướng - Vấn đề cần NL: Tình bà cháu trong bài thơ Bếp lửa của dẫn hs phân tích đề. Bằng Việt. - Cách nghị luận: Xuất phát từ sự cảm thụ cá nhân đối với bài thơ, từ đó khái quát thành những tình cảm cao đẹp của - Lập dàn ý cho đề bài con người. trên. II. Luyện nói: - HS luyện nói trên lớp. 1. Chuẩn bị trong nhóm: - Trong nhóm hs cùng luyện nói trong nhóm và 2. Trình bày theo dàn bài đã chuẩn bị sẵn: chọn ra bạn xuất sắc nhất nói trước lớp. a. Mở bài: - Tham khảo 2 cách nêu trong SGK. - GV y/c nói mạch lạc, rõ ràng. b. Thân bài: - Lưu ý liên kết câu, đoạn - Mở đầu bài thơ, h/ảnh bếp lửa xuất hiện và điệp lại sức ấm - Biểu cảm thái độ khi nói. và ánh sáng của nó lan tỏa trong toàn bài nỗi nhớ bà của đứa cháu cũng ấm nóng, da diết, thấm thía trong từng câu, - Gọi hs đại diện các nhóm chữ: “Cháu thương mưa” trình bày bài văn nói. - Ở khổ thơ thứ 2: mùi khói hun đã gợi lại cả một q/khứ đau - Y/c các nhóm nhận xét thương, đầy những thảm cảnh của nạn đói với những thân chéo - GV nhận xét và bổ phận, trong đó có bà và cháu. sung sửa lỗi. - Hình ảnh bà và bếp lửa còn gắn với tiếng kêu khắc khoải - Nhận xét về ND và cách của chim tu hú gợi lên sự nhớ nhung, xa cách. Trong những d/đạt ngày kháng chiến, giặc đốt phá làng, gia đình li tán, trên cái nền hoang tàn ấy và trong tiếng kêu khắc khoải của chim tu - Nhận xét về tác phong, hú, 2 bà cháu đã âm thầm nương tựa vào nhau để duy trì sự cách t/hiện - Bổ sung sống. Trong gian khổ, bần hàn những p/chất của bà vẫn tỏa sáng, nồng đượm. - HDHS nhận xét bài văn nói rút kinh nghiệm. - Đến khổ thơ thứ 5, nhà thơ nhắc đến hình ảnh ngọn lửa. Từ một bếp lửa hữu hình, cụ thể, gần gũi trong mỗi gia - GV nhận xét về việc đ́ ình, cháu liên tưởng đến ngọn vô h́ình: “Một ngọn sẵn”- chuẩn bị bài, Nội dung bài tình bà nồng đượm đã ấp ủ, sưởi ấm cháu qua tháng năm nói – cách trình bày trước cuộc đời. Tình bà như ngọn lửa thắp sáng niềm tin cho cháu tập thể - Đánh giá xếp loại một niềm tin bất diệt. các bài văn vừa luyện nói - Nhà thơ khái quát vẻ đẹp của ngọn lửa là vẻ đẹp kì lạ và thiêng liêng. Tình yêu thương và lòng nhân ái bao la của con người mãi ấm nóng, bền bỉ tỏa sáng trường tồn. - Kết thúc bài thơ, h/ảnh người bà và ngọn lửa được kết lại trong 1 câu hỏi tu từ: “Sáng mai chưa?”. Đó là 1 nỗi nhớ đau đáu, da diết thường trực. c. Kết bài: Bằng Việt muốn nói 1 điều: kì lạ , thiêng liêng nhưng cũng rất đỗi giản dị của đời người: tình yêu quê hương, xứ sở bắt nguồn từ những gì đơn sơ, giản dị, gần gũi nhất. Bà nhóm bếp lửa là nhóm lên sự sống với bao nỗi vui buồn, ngọt bùi, nồng đượm khởi đầu cho mọi t/cảm, vun đắp cho n/cách con người hoàn thiện sau này. *HĐ 3- LUYỆN TẬP. TIẾT 120. - Luyện nói trên lớp. - Dựa vào dàn ý trên- Học sinh viết các phần, các đoạn văn. - Mỗi phần, mỗi đoạn gọi 1 - 2 học sinh lên trình bày. - Lớp nhận xét. - Giáo viên nhận xét. *HĐ 4- VẬN DỤNG. - GV hệ thống hóa lại nội dung bài học ? Những ưu nhược điểm cần rút kinh nghiệm. Cảm nhận về hai khổ thơ đầu bài thơ “ Viếng Lăng Bác” của Viễn Phương. a) Mở bài - Giới thiệu vài nét về tác giả, tác phẩm + Viễn Phương (1928 - 2005) là một trong những cây bút có mặt sớm nhất của lực lượng văn nghệ giải phóng miền Nam thời kì chống Mĩ cứu nước. + Bài thơ Viếng lăng Bác (1976) không chỉ là nén hương thơm thành kính dâng lên Bác Hồ kính yêu mà còn là khúc tâm tình sâu nặng của Viễn Phương thay mặt đồng bào miền Nam gửi đến Bác trong những ngày đầu thống nhất. - Dẫn dắt, giới thiệu 2 khổ thơ đầu: Hai khổ thơ đã bộc lộ tâm trạng nhà thơ khi nhìn thấy hàng tre bên lăng Bác, cảnh vật quanh lăng và đoàn người vào viếng lăng. b) Thân bài * Khái quát về bài thơ - Hoàn cảnh sáng tác: Bài thơ được sáng tác năm 1976 khi Viễn Phương được vinh dự cùng đoàn đại biểu miền Nam ra thủ đô Hà Nội viếng lăng Bác sau ngày đất nước hoàn toàn thống nhất và lăng Bác vừa được hoàn thành. - Giá trị nội dung: Bài thơ thể hiện lòng thành kính và niềm xúc động sắc của nhà thơ nói riêng và mọi người nói chung khi đến thăm lăng Bác. * Phân tích hai khổ thơ đầu Khổ 1: Cảm xúc của nhà thơ khi đứng trước lăng Bác - “Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác” -> lời tự giới thiệu như lời tâm tình nhẹ nhàng. + Cách xưng hô “con - Bác” thân thương, gần gũi, diễn tả tâm trạng xúc động của người con ra thăm cha sau bao nhiêu năm xa cách. + “Con” ở đây cũng là cả miền Nam, là tất cả tấm lòng của đồng bào Nam Bộ đang hướng về Bác, hướng về vị cha già kính yêu của dân tộc với một niềm xúc động lớn lao. + Nhà thơ sử dụng từ “thăm” thay cho từ “viếng” một cách tinh tế -> Cách nói giảm, nói tránh nhằm làm giảm nhẹ nỗi đau thương mất mát. => Bác đã mãi mãi ra đi nhưng hình ảnh của Người vẫn còn mãi trong trái tim nhân dân miền Nam, trong lòng dân tộc. - Cảnh quang quanh lăng Bác: + Hình ảnh hàng tre Trong màn sương trắng, hình ảnh gây ấn tượng nhất đối với tác giả là hàng tre. Từ “hàng tre” được điệp lại hai lần trong khổ thơ gợi lên vẻ đẹp đẽ vô cùng của nó. Phép nhân hóa trong dòng thơ: “Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng” giúp hình ảnh hàng tre hiện lên càng thêm đẹp đẽ vô cùng. => Hình ảnh hàng tre là hình ảnh thực hết sức thân thuộc và gần gũi của làng quê, đất nước Việt Nam; bên cạnh đó còn là một biểu tượng con người, dân tộc Việt Nam kiên trung bất khuất. + Thành ngữ “bão táp mưa sa” nhằm chỉ những khó khăn thử thách của lịch sử dân tộc tộc. + Dáng “đứng thẳng hàng” là tinh thần đoàn kết đấu tranh, chiến đấu anh hùng, không bao giờ khuất phục của một dân tộc tuy nhỏ bé nhưng vô cùng mạnh mẽ. => Niềm xúc động và tự hào về đất nước, dân tộc, con người Nam Bộ, những cảm xúc chân thành, thiêng liêng của nhà thơ và cũng là của nhân dân đối với Bác kính yêu. Khổ 2: Cảm xúc của nhà thơ trước dòng người vào lăng - Hình ảnh vĩ đại khi bước đến gần lăng Bác: + Cụm từ chỉ thời gian “ngày ngày” được lặp lại như muốn diễn tả hiện thực đang vận chuyển của thiên nhiên, vạn vật mà sự vận chuyển của mặt trời là một điển hình. + Hình ảnh "mặt trời" “mặt trời đi qua trên lăng” là hình ảnh thực : mặt trời thiên tạo, là nguồn sáng ủac vũ trụ, gợi ra sự kì vĩ, sự bất tử, vĩnh hằng. Mặt trời là nguồn cội của sự sống và ánh sáng. “mặt trời trong lăng” là một ẩn dụ sáng tạo và độc đáo : hình ảnh của Bác Hồ vĩ đại. Giống như “mặt trời”, Bác Hồ cũng là nguồn ánh sáng, nguồn sức mạnh của dân tộc ta. - Hình ảnh dòng người đang tuần tự tiến vào thăm lăng Bác: + Tác giả đã liên tưởng đó là “tràng hoa” được kết từ dòng người đang tuần tự, trang nghiêm bước vào viếng lăng, như đang dâng hương hoa lòng thơm ngát lên Bác kính yêu. => Sự tôn kính, lòng biết ơn sâu sắc và nỗi tiếc thương vô hạn của muôn dân đối với Bác. * Đặc sắc nghệ thuật trong khổ 1, 2 - Cảm xúc dâng trào, cách diễn đạt thật chân thật, tha thiết - Hình ảnh ẩn dụ đẹp đẽ

File đính kèm:

  • pdfgiao_an_ngu_van_9_tuan_25_chu_de_5_luyen_tap_lam_van_nghi_lu.pdf