Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp chỉ đạo nhằm nâng cao hiệu quả nhiệm vụ phổ cập giáo dục Tiểu học và phổ cập giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi ở trường Tiểu học trong giai đoạn hiện nay
Bạn đang xem nội dung tài liệu Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp chỉ đạo nhằm nâng cao hiệu quả nhiệm vụ phổ cập giáo dục Tiểu học và phổ cập giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi ở trường Tiểu học trong giai đoạn hiện nay, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Sáng kiến kinh nghiệm - Năm học 2010 - 2011
A- Đặt vấn đề.
I- Lời mở đầu .
Được đi học là một niềm hạnh phúc lớn của mỗi người. Trong suốt quãng
đời đi học, mỗi bài học đều để lại những dấu ấn sâu đậm và mãi mãi không bao
giờ quên đó là những năm tháng học trong trường Tiểu học vì đây là bậc học có
ý nghĩa nhân văn sâu xa, không chỉ dạy những kiến thức cơ bản mà còn dạy các
em học làm người .Trẻ em như tờ giấy trắng viết, vẽ lên đó những gì phần lớn
phụ thuộc vào nhà trường chính vì vậy giáo dục Tiểu học có vai trò quyết định
đến việc hình thành và phát triển nhân cách của trẻ. Trẻ em không được cắp sách
đến trường là một thiệt thòi lớn mà bản thân các em phải gánh chịu thêm vào đó
là gánh nặng của xã hội . Trẻ không được học hành đồng nghĩa với sự cam chịu
yếu kém, đói nghèo, không có việc làm và nhiều thách thức khác, chính vì sự cần
thiết của một xã hội công bằng, không phân biệt tôn giáo, vùng miền không phân
biệt giàu nghèo mà Đảng và nhà nước đã tạo điều kiện tốt nhất để mọi trẻ em
được đến trường. Nhiều chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đã đi vào
cuộc sống của nhân dân nói chung và giáo dục nói riêng (đặc biệt là đối với bậc
tiểu học). Ngay sau khi giành được độc lập (2/9/1945) đến ngày 8/9/1945 bác Hồ
đã ra lời kêu gọi “Chống nạn thất học”. Như vậy có thể thấy giáo dục nói chung
và giáo dục Tiểu học nói riêng luôn được Đảng và nhà nước hết sức quan tâm và
là một chính sách lớn của quốc gia để tiến tới một xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh.
Năm 1991 Chính phủ đã ban hành “Luật Phổ cập giáo dục Tiểu học”, luật
ghi rõ “Nhà nước thực hiện chính sách phổ cập giáo dục Tiểu học bắt buộc từ
lớp 1 đến lớp 5 đối với trẻ em Việt Nam trong độ tuổi từ 6 đến 14 tuổi”. Chế độ
giáo dục bắt buộc này vừa đảm bảo quyền lợi cơ bản của trẻ là được học tập và
phát triển vừa tạo điều kiện để nâng cao dân trí, làm cho cuộc sống của mỗi
người, mỗi gia đình ngày càng văn minh hạnh phúc. Bên cạnh những sự ưu đãi
đặc biệt cho bậc Tiểu học Đảng và Nhà nước còn thường xuyên quan tâm đến
giáo dục của những vùng khó khăn và trẻ em gặp khó khăn trong học tập . Điều
11 Luật phổ cập giáo (PCGD) dục ghi rõ “Trẻ em là con liệt sĩ, con thương binh,
trẻ em tàn tật, trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn
đặc biệt được nhà nước và xã hội quan tâm giúp đỡ, tạo điều kiện cần thiết để đạt
trình độ giáo dục Tiểu học”.
Đến năm 2005 thì “Luật giáo dục” lại được bổ sung và sửa đổi cho phù
hợp với giai đoạn hiện nay của ngành giáo dục nhưng cho dù sửa đổi như thế nào
thì luật vẫn luôn khẳng định “Giáo dục Tiểu học là bậc học nền tảng của hệ
thống giáo dục quốc dân, có nhiệm vụ xây dựng và phát triển tình cảm, đạo đức,
trí tuệ, thẩm mỹ và thể chất của trẻ em, nhằm hình thành cơ sở ban đầu cho sự
phát triển toàn diện nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa” .
Phạm Thị Hoa - Trường Tiểu học Tân Phúc - Nông Cống 1 Sáng kiến kinh nghiệm - Năm học 2010 - 2011
Thực tế cho thấy trong giai đoạn hiện nay công tác phổ cập giáo dục còn
gặp nhiều khó khăn bất cập trong việc chỉ đạo cũng như trong quá trình thực
hiện dẫn đến công tác PCGDTH và PCGDTHĐĐT chưa mang lại hiệu quả cao.
Xuất phát từ lý do trên tôi đã quyết định lựa chọn đề tài nghiên cứu “Một số biện
pháp chỉ đạo nhằm nâng cao hiệu quả nhiệm vụ phổ cập giáo dục Tiểu học và
phổ cập giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi ở trường Tiểu học trong giai đoạn hiện
nay”. Hy vọng trong quá trình nghiên cứu đề tài bản thân tôi sẽ góp phần cho
công tác quản lý và thực hiện nhiệm vụ PCGDTH cũng như PCGDTH ĐĐT ở
trường Tiểu học đạt hiệu quả hơn.
II - Thực trạng của vấn đề nghiên cứu .
1- Đặc điểm tình hình chung :
Để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội thì trước tiên chúng ta phải
phát triển giáo dục, thực hiện chế độ phổ cập giáo dục bởi vì PCGD góp phần
nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài phục vụ cho sự
phát triển kinh tế xã hội nhưng thực tế cho thấy để thực hiện được mục tiêu này
là cả một quá trình khó khăn vất vả cả về nguồn nhân lực và vật lực bởi phổ cập
kiến thức phổ thông không phải là điều dễ làm, dễ hiểu, dễ tiếp thu đối với mọi
người nó đòi hỏi phải có sự tham gia đồng bộ, sự kết hợp chặt chẽ của tất cả mọi
tầng lớp, mọi ngành nghề và mọi cơ quan chức năng trong xã hội thì mới thu
được kết quả cao. Năm 2000 cả nước đã đạt chuẩn PCGDTH và hiện nay đang
chuyển sang nhiệm vụ củng cố và nâng cao thành quả PCGDTH trên cả nước
tiến tới đạt chuẩn PCGDTH và PCGDTH ĐĐT ở mức độ 1 và mức độ 2.
Trong những năm qua để nâng cao chất lượng PCGDTH chính phủ đã tập
trung chỉ đạo chống mù chữ và tái mù chữ củng cố kết quả PCGDTH ở các tỉnh
khó khăn, tuy nhiên công tác này vẫn còn nhiều yếu kém và bất cập đó là : Tỉ lệ
người biết chữ trong độ tuổi từ 15 đến 35 theo thống kê mới đạt tỉ lệ 96% sẽ
phấn đấu đạt 98 % vào năm 2012 và giảm 50% tỉ lệ số người mù chữ trong độ
tuổi 15 đến 35 ở các dân tộc thiểu số, mở rộng diện chống mù, tái mù chữ cho
các khu vực miền núi phía Bắc, đồng bằng Sông Cửu Long, Tây Nguyên và ven
biển Nam Trung Bộ trong độ tuổi này.
Đối với địa bàn huyện Nông Cống nói chung trong những năm gần đây
công tác PCGDTH cũng có nhiều khởi sắc tỉ lệ học sinh bỏ học, học sinh lưu ban
giảm rõ rệt. Tỉ lệ học sinh hoàn thành chương trình Tiểu học tăng cao. Tính đến
thời điểm tháng 12 năm 2010 cả huyện có 24 trường Tiểu học đạt chuẩn quốc
gia trong đó có 23 trường đạt chuẩn quốc gia mức độ 1 và 1 trường đạt chuẩn ở
mức độ 2 (trường Tiểu học Hoàng Giang), một số trường đang trong giai đoạn
hoàn tất hồ sơ để được công nhận trường chuẩn mức độ 1 . Bên cạnh đó một số
trường chưa nhận thức được công tác PCGDTH và PCGDTH ĐĐT là một
nhiệm vụ cần thiết và phải tiến hành trong thời gian lâu dài, liên tục nên sau khi
Phạm Thị Hoa - Trường Tiểu học Tân Phúc - Nông Cống 2 Sáng kiến kinh nghiệm - Năm học 2010 - 2011
được công nhận chuẩn đã không quan tâm đầy đủ đến việc cũng cố và giữ vững
kết quả dẫn đến bị “mất chuẩn” đây là điều rất đáng buồn cần phải rút kinh
nghiệm.
2- Đặc điểm tình hình của địa phương :
Xã Tân Phúc nằm ở phía bắc huyện Nông Cống là một xã thuần nông với
tổng số dân là : 4.942 người được chia làm 8 thôn, trong đó có thôn 1, thôn 2 và
thôn 8 học sinh đi học cách xa trường từ 2 đến 3,5 km. Nhân dân sống chủ yếu
bằng nghề nông nghiệp và khai thác đá. Do điều kiện kinh tế khó khăn nên nhiều
gia đình phải đi làm ăn xa như đi Miền Nam hoặc nước ngoài để con cái ở nhà
với ông bà già yếu do vậy khhông có điều kiện dạy dỗ, chăm sóc bảo ban các em
trong việc học tập dẫn đến các em sao nhãng học hành không đạt được kết quả
cao trong học tập.
Trong những năm gần đây nhờ công cuộc đổi mới của Đảng xã Tân Phúc
đang từng ngày, từng giờ thay da đổi thịt, cán bộ và nhân dân xã Tân Phúc đã
đổi mới cơ cấu cây trồng và sản xuất vì vậy mà các mặt kinh tế, chính trị, văn
hoá, xã hội được phát triển nhanh, đời sống đại đa số bộ phận nhân dân được
nâng cao, tình hình an ninh trật tự ổn định, các tệ nạn xã hội được đẩy lùi, các tổ
chức chính trị trong thôn, xã hoạt động có hiệu quả, cơ sở hạ tầng đã được đầu
tư cơ bản, các cấp học có nhà cao tầng xây dựng nhiều nhà văn hóa ở các thôn
và đặc biệt là giáo dục đã đạt được nhiều thành tích cao ở cả 3 cấp học.
• Dưới đây là bảng điều tra tổng hợp trình độ văn hóa trên địa bàn toàn xã mà
các đồng chí giáo viên đã điều tra được tại thời điểm tháng 10 /2010.
Thôn Tổng Số người biết chữ trong độ tuổi Số người mù chữ trong độ
dân tuổi
số Từ 15- 25 Từ 26- 35 Từ 35 . Từ15-25 Từ 26-35 Từ 35...
TS Nữ TS Nữ TS Nữ TS Nữ TS Nữ TS Nữ
1 753 241 117 111 44 262 134 1 1 1 1 1
2 531 164 78 102 45 214 103 1
3 668 196 110 120 57 226 117 1 1 1 2 1
4 630 177 87 71 33 250 130 2 2
5 475 107 55 79 35 176 98 3 1 3 2
6 639 143 79 98 53 241 118 1 1 1
7 845 180 86 150 62 396 196 3 1 2
8 401 127 52 46 18 169 94 1 1 1 1 1
Tổng 4.942 1.335 664 774 346 1.934 990 3 10 4 13 8
Phạm Thị Hoa - Trường Tiểu học Tân Phúc - Nông Cống 3 Sáng kiến kinh nghiệm - Năm học 2010 - 2011
3- Đặc điểm tình hình của nhà trường :
Trường Tiểu học Tân Phúc được tách ra khỏi trường Cấp 1-2 Tân Phúc từ
năm 1993. Trong nhiều năm qua nhà trường đã liên tục đạt danh hiệu trường tiên
tiến cấp huyện và có nhiều cá nhân đạt thành tích xuất sắc cấp huyện, cấp tỉnh.
Công tác PCGDTH và PCGDTH ĐĐT luôn được nhà trường quan tâm và đặt
lên hàng đầu cùng với công tác chuyên môn trong nhà trường chính vì vậy công
tác PCGD trong nhà trường đã được phòng giáo dục kiểm tra và công nhận đạt
chuẩn PCGD TH ở giai đoạn 1. Tuy nhiên để đạt được thành quả trên nhà trường
đã gặp rất nhiều khó khăn, vất vả đó là một bộ phận phụ huynh học sinh chưa
nhận thức được tầm quan trọng của công tác PCGD trong nhà trường Tiểu học,
cơ sở vật chất trang thiết bị của nhà trường còn thiếu thốn, giáo viên đặc thù
không có. Đội ngũ giáo viên trong nhà trường chủ yếu phần lớn là người xã bạn
nên rất xa trường. Nguồn kinh phí hỗ trợ từ cấp trên và địa phương đầu tư rất hạn
hẹp, nhà trường phải vay mượn kinh phí để đầu tư vào việc mua sắm cơ sở vật
chất, trang thiết bị để phục vụ việc dạy học.
Xuất phát từ tình hình thực tiễn do điều kiện về cơ sở vật chất cũng như
điều kiện về khó khăn trong công tác giáo dục dẫn đến chất lượng giáo dục trong
nhà trường những năm trước còn thấp, hiệu quả giáo dục chưa cao, chưa đạt
được mục đích, mục tiêu, yêu cầu của ngành giáo dục.
4- Thực trạng công tác PCGDTH và PCGDTH ĐĐT ở Trường Tiểu học Tân
Phúc
a- Về giáo viên :
- Số liệu giáo viên biên chế trực tiếp đứng lớp theo từng khối năm học 2010 -
2011
Tổng hợp Tổng Nữ Trình độ Trình độ Xếp loại chuyên môn
số THSP ĐHSP Giỏi Khá TB Yếu
Khối lớp
1 2 2 2 2 0
2 4 3 3 1 1 3 0
3 3 3 2 1 1 2 0
4 3 3 3 1 2 0
5 3 2 1 3 1 1 1 0
Tổng 15 13 6 9 6 8 1 0
= 40% = 60% = 40% =53.3% = 6.7%
+ Mặt mạnh :
Về trình độ đào tạo của giáo viên trong nhà trường cơ bản đã được đào tạo
chuẩn và trên chuẩn, về trình độ chuyên môn tỷ lệ giáo viên đạt loại giỏi và khá
Phạm Thị Hoa - Trường Tiểu học Tân Phúc - Nông Cống 4 Sáng kiến kinh nghiệm - Năm học 2010 - 2011
là 93.3 % đây là một tỷ lệ khá cao do vậy chất lượng giờ dạy đã được nâng lên rõ
rệt so với các năm học trước. Phần lớn các giáo viên đã có kinh nghiệm trong
công tác giảng dạy. Tập thể giáo viên trong nhà trường thống nhất, đoàn kết
cùng giúp nhau thực hiện tốt các công việc được giao, nội bộ Ban giám hiệu
đoàn kết nhất trí cùng hỗ trợ nhau trong quá trình làm việc.
+ Mặt yếu :
Nhà trường không có giáo viên bộ môn đặc thù nên giáo viên rất vất vả
trong công tác soạn bài một giáo viên trong một đêm phải soạn nhiều giáo án lại
thêm công tác chủ nhiệm lớp nên mất rất nhiều thời gian dẫn đến việc đầu tư vào
bài giảng có phần hạn chế . Mặt khác số giáo viên là người địa phương quá ít
(chỉ có 1 đồng chí) còn lại là giáo viên các xã lân cận đi dạy với quãng đường
khá xa mất nhiều thời gian đi lại, ảnh hưởng đến sức khoẻ và thời gian học tập,
công tác từ đó ảnh hưởng đến chất lượng dạy và học trong nhà trường.
b- Về học sinh :
- Số liệu học sinh biên chế theo từng khối lớp năm học 2010 - 2011:
Số HS Tỉ lệ đạt Ghi chú
Khối Số lớp Số HS Nữ Dân Học sinh
tộc học 10b/
Khuyết tật tuần
1 2 66 32 0 4 66 100%
2 2 63 24 0 1 63 100%
3 2 51 28 0 2 51 100%
4 2 68 33 0 2 68 100%
5 2 63 29 0 1 63 100%
Tổng 10 311 146 0 10 311 100%
- Số liệu học sinh trong thôn theo từng khối lớp năm học 2010- 2011:
Thôn Thôn Thôn Thôn Thôn Thôn Thôn Thôn Thôn
Khối 1 2 3 4 5 6 7 8
Khối 1 6 9 10 5 8 16 8 4
Khối 2 7 6 5 6 8 18 8 5
Khối 3 5 5 3 5 14 2 10 7
Khối 4 6 8 11 10 4 9 13 7
Khối 5 5 6 11 8 11 11 8 3
Tổng 29 34 40 34 45 56 47 26
Phạm Thị Hoa - Trường Tiểu học Tân Phúc - Nông Cống 5 Sáng kiến kinh nghiệm - Năm học 2010 - 2011
* Kết quả đánh giá xếp loại 2 mặt giáo dục cuối năm học 2009- 2010:
Khối lớp 1 2 3 4 5 Ghi
Xếp loại chú
Tổng số học sinh 65 53 67 63 76
Xếp loại Đủ 63 53 67 63 76
Hạnh kiểm CĐ 2 0 0 0 0
Giỏi 13 10 11 13 6
Xếp loại Khá 9 15 13 18 37
Văn hoá TB 40 26 42 32 33
Yếu 1 2 1 0 0
* Nhận xét : + Mặt mạnh :
100 % số học sinh trong toàn trường được học 2 buổi / ngày, 10 buổi/ tuần.
Kết quả học tập của học sinh thông qua bảng báo cáo số liệu 2 mặt giáo
dục cuối năm học 2009- 2010 là một kết quả đáng phấn khởi vì kết quả học tập
của các em khá cao đặc biệt là môn Tiếng Việt từ khối 2 đến khối 5 không có
học sinh yếu, tỷ lệ học sinh lớp 5 hoàn thành chương trình Tiểu học là 100%. Tỷ
lệ học sinh giỏi trường và giỏi huyện cũng rất cao (4/6 học sinh dự thi đạt học
sinh giỏi huyện).
+ Mặt yếu :
Số lớp được biên chế trong năm học là phù hợp với qui định của bộ giáo
dục, bình quân 31 học sinh / lớp nhưng so với học sinh tiểu học thì sĩ số 1 lớp
học như thế là khá cao. Đây là yếu tố khó khăn cho công tác giảng dạy và giáo
dục bởi vì số học sinh/ lớp càng thấp hiệu quả giáo dục càng cao và ngược lại số
học sinh/ lớp càng cao thì hiệu quả giáo dục sẽ bị hạn chế nhất là những vùng
nông thôn có mức thu nhập bình quân trên đầu người thấp như xã Tân Phúc thì
lại càng vất vả, trong khi đó tỷ lệ học sinh khuyết tật lại rất cao năm học 2010-
2011 nhà trường có 10 học sinh khuyết tật từ khối 1 đến khối 5 (10 học sinh
khuyết tật = 50 học sinh bình thường). Mặt khác một số bộ phận nhân dân còn
nhận thức chậm về trách nhiệm đối với công tác PCGDTH cũng như PCGDTH
ĐĐT. Một số không ít gia đình học sinh chưa thực sự quan tâm đến việc tập của
con em mình. Ngoài giờ học các em còn phải lao động phụ giúp gia đình nên
không giành được thời gian học thêm ở nhà. Có những gia đình vợ chồng đi làm
ăn xa về quê hoặc vì lí do nào đó chưa làm giấy khai sinh cho trẻ, có những gia
đình làm giấy chứng sinh ở trạm Y tế khai 1 tên nhưng khi đi học lại khai tên
khác do vậy khi đến trường Tiểu học thì tên tuổi và ngày sinh của trẻ thường bị
lệch, không khớp với điều tra ban đầu ở trong sổ phổ cập.
Phạm Thị Hoa - Trường Tiểu học Tân Phúc - Nông Cống 6 Sáng kiến kinh nghiệm - Năm học 2010 - 2011
Một yếu tố quan trọng nữa là do địa bàn dân cư trên toàn xã dàn trải theo
chiều dài không tập trung do vậy một số gia đình ở xa trường Mần Non như thôn
1, thôn 2 và thôn 8 thường không cho trẻ đi học mẫu giáo nên khi vào lớp 1 trẻ
thường nhút nhát, ngại giao tiếp, chậm tiến bộ và chưa thuộc mặt chữ . Đây là
một yếu tố vô cùng khó khăn đối với nhà trường nói chung và giáo viên dạy lớp
1 nói riêng.
Ngoài ra một số gia đình thấy con còn nhỏ ngại đưa đón nên thường cho
con đi học muộn, ngược lại có những gia đình thấy con phát triển tốt lại khai
thêm tuổi để con đi học sớm . Bên cạnh đó không ít gia đình chỉ tập trung lo làm
kinh tế không quan tâm chuyện học hành của con cái điều này cũng gây ảnh
không nhỏ đến công tác phổ cập trong nhà trường. Tỷ lệ học sinh giỏi quá thấp
mấy năm gần đây nhà trường không có học sinh giỏi cấp tỉnh đây là nguyên nhân
“ Đào tạo nhân tài” chưa được chú trọng hay nhà trường chưa có biện pháp hữu
hiệu bồi dưỡng học sinh giỏi ? Bài toán này đòi hỏi các đồng chí quản lý cùng
các đồng chí giáo viên chủ nhiệm lớp đặt câu hỏi và giải đáp thoả đáng vì đây là
vấn đề quan trọng cần được khắc phục ngay trong năm học 2010- 2011.
c- Về công tác quản lý :
Với những khó khăn thách thức như vậy nhưng Ban giám hiệu và tập thể
giáo viên trong nhà trường đã vượt lên bằng chính sự nổ lực cố gắng của mỗi
thành viên và sự ủng hộ nhiệt tình của cấp Ủy đảng, chính quyền và nhân dân địa
phương đã tạo điều kiện giúp đỡ để nhà trường đạt danh hiệu trường tiên tiên cấp
huyện trong nhiều năm qua và phấn đấu đạt trường chuẩn quốc gia vào năm
2011.
Khi tiến hành công tác PCGD các văn bản pháp qui, qui phạm của nhà
nước luôn được nhà trường cập nhật đầy đủ tạo hành lang pháp lí cho nhà trường
thực hiện nhiệm vụ PCGD. Nhà trường đã tạo được niềm tin cho các cấp Uỷ
đảng và nhân dân xứng đáng là chỗ dựa tin cậy cho bà con nhân dân khi có con
cháu học tập ở nhà trường và nhà trường xứng đáng là cái nôi “giáo dục” ở địa
phương trong sự nghiệp “Trồng người”.
Phát huy những kết quả đã đạt được trong công tác phổ cập ở năm học
2009- 2010 nhà trường tiếp tục cũng cố và giữ vững thành quả PCGDTH cũng
như PCGDTH ĐĐT trong năm học 2010- 2011 và các năm học tiếp theo. Ngay
từ đầu năm học Hiệu phó chuyên môn được phân công phụ trách công tác phổ
cập đã xây dựng kế hoạch “Chỉ đạo công tác phổ cập” trong năm học một cách
cụ thể, chi tiết. Phân công nhiệm vụ và giao trách nhiệm rõ ràng cho các tổ chức,
đoàn thể và từng thành viên trong hội đồng giáo dục nhà trường như :
- Kế hoạch hoạt động công tác phổ cập năm học.
- Kế hoạch hoạt động công tác phổ cập từng tháng, từng kỳ .
- Kế hoạch kiểm tra công tác phổ cập từng tháng, từng kỳ.
Phạm Thị Hoa - Trường Tiểu học Tân Phúc - Nông Cống 7 Sáng kiến kinh nghiệm - Năm học 2010 - 2011
Do điều kiện hoàn cảnh thực tế của nhà trường còn thiếu thốn và nhiều
yếu tố ảnh hưởng khác vì vậy trong quá trình chỉ đạo và thực hiện gặp rất nhiều
khó khăn, vướng mắc dẫn đến kết quả thực hiện chưa cao.
B- Giải quyết vấn đề .
Như chúng ta đã biết trong quá trình thực hiện công tác PCGDTH và
PCGDTH ĐĐT là một quá trình lâu dài, thường xuyên và liên tục nó gắn liền với
công tác chuyên môn trong nhà trường chính vì thế mà người Hiệu phó phụ trách
công tác chuyên môn luôn gắn liền với nhiệm vụ phổ cập giáo dục, do vậy người
quản lí cần phải biết sắp xếp công việc của mình một cách khoa học, tận dụng
thời gian hợp lý để hướng dẫn cho đội ngũ giáo viên của mình làm tốt công tác
PCGDTH và PCGDTH ĐĐT sao cho đạt được mục đích đề ra.
Trên cơ sở chỉ đạo thực hiện và nghiên cứu thực trạng công tác PCGDTH
và PCGDTH ĐĐT ở Trường Tiểu học Tân Phúc nơi tôi đang làm công tác quản
lý tôi đã rút ra được một số kinh nghiệm và dưới đây là một số giải pháp và biện
pháp thực hiện công tác PCGDTH cũng như PCGDTH ĐĐT mà nhà trường đã
đề ra và thực hiện có hiệu qủa trong giai đoạn hiện nay :
I- Các giải pháp thực hiện .
- Nhà trường phối kết hợp với trường Mầm Non và Ban đại diện cha mẹ học sinh
ở các thôn điều tra, huy động 100 % số trẻ 6 tuổi vào lớp 1.
- Chú trọng công tác duy trì sĩ số học sinh 100% từ đầu cấp cho tới cuối cấp,
không thể để xảy ra tình trạng học sinh bỏ học.
- Tích cực phụ đạo cho học sinh yếu kém ở các khối lớp vào buổi 2 và sáng thứ 7
hàng tuần, hạn chế tối đa tỷ lệ học sinh lưu ban, không để tình trạng học sinh
ngồi nhầm lớp. Sau khi kiểm tra chất lượng đầu năm các lớp phân loại đối tượng
học sinh và lên kế hoạch phụ đạo học sinh yếu kém ngay từ đầu năm học.
- Phấn đấu đạt tỷ lệ 100% trẻ trong độ tuổi 10 tuổi và trẻ học lớp 5 hoàn thành
chương trình Tiểu học.
- Tổ chức tốt và có hiệu quả ngày toàn dân đưa trẻ đến trường. Tạo ấn tượng tốt
cho trẻ trong ngày đầu tiên đi học.
- Thực hiện đảm bảo chất lượng giáo dục Tiểu học theo đúng qui định của Bộ
giáo dục.
- Tăng cường công tác tham mưu cho chính quyền địa phương vận động nhân
dân đóng góp xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị để phục vụ cho
công tác dạy và học.
- Tổ chức động viên cán bộ giáo viên tích cực bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ,
nắm vững chương trình, nội dung của cấp học, tích cực đổi mới phương pháp
dạy học. Tăng cường công tác viết sáng kiến kinh nghiệm và làm đồ dùng dạy
học.
Phạm Thị Hoa - Trường Tiểu học Tân Phúc - Nông Cống 8 Sáng kiến kinh nghiệm - Năm học 2010 - 2011
- Tổ chức tuyên truyền nâng cao nhận thức, trách nhiệm về công tác PCGDTH
và PCGDTH ĐĐT sâu rộng trong đội ngũ cán bộ giáo viên, các cấp Uỷ đảng và
toàn thể nhân dân hiểu để từ đó mọi người thấy rõ trách nhiệm của mình trong
việc thực hiện công tác PCGD ở nhà trường Tiểu học.
- Làm tốt công tác bồi dưỡng học sinh giỏi nâng chất lượng mũi nhọn, phụ đạo
học sinh yếu kém, giúp đỡ học sinh có hoàn cảnh khó khăn để nâng cao chất
lượng đại trà.
- Thường xuyên điều tra theo dõi, bổ sung số liệu biến động trong từng độ tuổi
phải phổ cập. Xây dựng bộ hồ sơ phổ cập đầy đủ, đúng qui định, chính xác và
được cập nhật thường xuyên.
- Phối kết hợp tốt mối quan hệ giữa gia đình, nhà trường và xã hội để làm tốt
công tác PCGDTH và PCGDTH ĐĐT. Tổ chức tốt các hoạt động của hội cha mẹ
học sinh trong nhà trường nhằm giúp đỡ, đôn đốc các bậc phụ huynh trong thôn,
xã thực hiện tốt công tác PCGDTH.
- Huy động tất cả mọi lực lượng như : Hội cha mẹ học sinh, các tổ chức đoàn
thể, các tổ chức kinh tế, chính trị xã hội hỗ trợ tài chính để xây dựng cơ sở vật
chất cho nhà trường hoạt động.
- Tổ chức các lớp học như :
+ Mở lớp học hoà nhập cho trẻ khuyết tật ( nếu số lượng trẻ khuyết tật quá
nhiều)
+ Mở lớp học xoá mù và tái mù chữ (nếu tỉ lệ người mù chữ trong độ tuổi
từ 15- 35 quá cao).
+ Mở lớp học tình thương.
- Thực hiện tốt công tác kiểm tra, đánh giá một cách thường xuyên liên tục theo
qui định mà kế hoạch đầu năm học đã đề ra.
- Khen thưởng cho các cá nhân và các tổ chức đạt thành tích xuất sắc, xử phạt
kịp thời những cá nhân sai phạm và cố tình làm sai lệch các qui định trong công
tác phổ cập.
- Tiếp tục nâng cao vai trò lãnh đạo của các cấp Uỷ đảng để thực hiện tốt Nghị
định số 338/HĐBT ra ngày 26/10/1991 về việc thi hành Luật phổ cập và Thông
tư 36/2009/TT- BGDĐT về việc ban hành quy định kiểm tra và công nhận
PCGDTH và PCGDTH ĐĐT ở mức độ 1 và mức độ 2 .
II- Một số biện pháp tổ chức thực hiện công tác PCGDTH và PCGDTH ĐĐT ở
đơn vị trường Tiểu học Tân phúc.
1- Tăng cường nâng cao nhận thức cho các cấp lãnh đạo Đảng, chính quyền, giáo
viên, học sinh và nhân dân địa phương về công tác PCGDTHĐĐT.
Để tiếp tục duy trì, thực hiện tốt công tác PCGDTH nói chung và
PCGDTHĐĐ nói riêng, cần tăng cường nâng cao nhận thức cho toàn thể đội ngũ
lãnh đạo Đảng chính quyền, đoàn thể nhân dân ở địa phương. Cách thực hiện là
Phạm Thị Hoa - Trường Tiểu học Tân Phúc - Nông Cống 9 Sáng kiến kinh nghiệm - Năm học 2010 - 2011
tuyên truyền các chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước để các đối tượng
trên nắm rõ. Tuy nhiên về mặt pháp lí các chủ trương đều được cập nhật ở các
địa phương. Đặc biệt các chủ trương về giáo dục cần có sự hậu thuẫn thêm từ
phía nhà trường. Đây là khâu hết sức quan trọng, nếu chủ trương được làm rõ
hơn, tường tận hơn thì khi bắt tay vào áp dụng sẽ nhiều mặt thuận lợi hơn. Khi
mà các cấp Uỷ đảng, Chính quyền đã hiểu được mục đích ý nghĩa của chủ
trương thì sẽ nhận được sự ủng hộ cao thực hiện sẽ mang lại hiệu quả.
Nhà trường tích cực tuyên truyền sâu rộng về chủ trương về
PCGDTHĐĐT cho nhân dân biết rõ và nắm chắc và cần cập nhật đầy đủ các chủ
trương giáo dục cũng như về công tác phổ cập GDTĐĐT cho nhân dân biết,
thông qua các phương tiện truyền thanh của xã, thôn hoặc thông qua các buổi
họp phụ huynh, họp thôn Sau khi đã nắm được đường lối, chủ trương thì nhân
dân sẵn sàng chấp hành và thực hiện theo yêu cầu. Cũng cần phải đề cập đến là
khi có chủ trương về PCGDTHĐĐT nhà trường cần báo cáo với các cấp Uỷ
đảng, chính quyền,các đoàn thể để họ nắm rõ. Khi lãnh đạo địa phương đã nhận
thức được tầm quan trọng của công tác PCGDTHĐĐT thì sẽ dễ dàng cho nhà
trường tiến hành nhiệm vụ.
Bên cạnh tăng cường nhận thức cho các cấp lãnh đạo Đảng, chính quyền,
đoàn thể nhân dân , cũng không thể coi nhẹ việc giác ngộ, nâng cao nhận thức
cho giáo viên học sinh. Người quản lý phải thực sự là người thấu hiểu mục tiêu
của công tác PCGDTHĐĐT, từ đó tuyên truyền cho đội ngũ giáo viên. Cách
tuyên truyền có thể tổ chức từng buổi riêng, hoặc thông qua các buổi họp hội
đồng, họp chuyên môn để lồng ghép nội dung tuyên truyền. Tổ chức các cuộc thi
tìm hiểu về Luật PCGDTH và những quy định, những tiêu chuẩn về kiểm tra,
đánh giá, công nhận cá nhân đơn vị hoàn thành PCGDTHĐĐT theo thông tư
36/2009/TT- BGDĐT ra ngày 4/12/2009 của bộ Giáo dục và Đào tạo. Cuối năm
học tổ chức cho giáo viên viết sáng kiến kinh nghiệm về thực hiện công tác
PCGDTHĐĐT. Nhà trường cần tham mưu với ban chỉ đạo khen thưởng cho cá
nhân, đoàn thể tổ chức vận động tuyên truyền đạt thành tích cao trong công tác
PCGDTHĐĐT.
2- Điều tra nắm chắc số lượng trẻ em trong độ tuổi phổ cập, xây dựng chỉ tiêu
PCGDTHĐĐT cho từng độ tuổi.
Điều tra số lượng trẻ trong độ tuổi phổ cập là khâu hết sức quan trọng.
Giúp cho nhà trường nắm được số lượng trẻ trong độ tuổi, để xây dựng kế hoạch
PCGDTHĐĐT. Trước hết nhà trường phải phân công trách nhiệm cho các giáo
viên đến từng đội, thôn để nắm bắt số trẻ trong độ tuổi 0-14, trình độ văn hoá
người từ 15-35 tuổi. Nhà trường cần cử giáo viện phụ trách lâu dài nơi mà giáo
viên đó được phân công điều tra có như vậy giáo viên đó vừa gắn trách nhiệm
vừa thông thạo địa bàn dân cư nơi đó làm Phổ cập sẽ chính xác hơn.
Phạm Thị Hoa - Trường Tiểu học Tân Phúc - Nông Cống 10
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_chi_dao_nham_nang_cao.doc