Giáo án Tự chọn Ngữ văn 9 - Chủ đề: Văn bản và tạo lập văn bản - Năm học 2023-2024
Bạn đang xem nội dung tài liệu Giáo án Tự chọn Ngữ văn 9 - Chủ đề: Văn bản và tạo lập văn bản - Năm học 2023-2024, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Ngày soạn: 25/1/2024
CHỦ ĐỀ VĂN BẢN VÀ TẠO LẬP VĂN BẢN ( 4 TIẾT )
A.MỤC TIÊU CẦN ĐẠT
- Giúp Hs củng cố các kỹ năng làm bài văn nghị luận
- Nghiêm túc trong giờ học
B.CHUẨN BỊ: giáo án, hệ thống đề bài
C.TIẾN TRÌNH DẠY HỌC
Tiết 27
KỸ NĂNG LÀM VĂN NGHỊ LUẬN
A. Mục tiêu
- Giúp học sinh củng cố hệ thống lại kiến thức về kỹ năng làm bài văn nghị luận văn
học
- Học sinh luyện tập một số bài về các kiến thức được học
B. Chuẩn bị
- Giáo viên soạn giáo án
- Học sinh ôn lại các kiến thức đã học
C.Tiến trình các hoạt động dạy-học
- Ổn định
- Kiểm tra: sự chuẩn bị của học sinh
- Bài mới
Hoạt động của giáo viên- Nội dung cần đạt
Học sinh
Hoạt động 1 I Nghị luận về tác phẩm truyện
- Học sinh nhắc lại kiến thức 1. Khái niệm:
văn nghị luận mà các em đã Nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) là
học ở chương trình lớp 7 trình bày những nhận xét, đánh giá của mình về nhân
vật, chủ đề hay nghệ thuật của một tác giả cụ thể.
2. Yêu cầu
- Những nhận xét, đánh giá về truyện phải xuất phát
từ ý nghĩa của cốt truyện, tính cách, số phận của nhân
vật và nghệ thuật trong tác phẩm được người viết phát
hiện và khái quát.
- Các nhận xét, đánh giá về tác phẩm truyện (hoặc
đoạn trích) trong bài nghị luận phải rõ ràng, đúng đắn, có
luận cứ và lập luận thuyết phục.
- Bài nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích)
cần có bố cục mạch lạc, có lời văn chuẩn xác, gợi cảm.
3. Các bước làm bài
Bước 1: Phân tích đề - Tìm ý
Phân tích đề
* Vấn đề nghị luận có các dạng:
- Phân tích nhân vật - Nêu các bước làm bài văn - Diễn biến cốt truyện
nghị luận - Giá trị nghệ thuật
-
* Yêu cầu nghị luận được thể hiện bằng các mệnh lệnh:
- Khi tìm hiểu đề ta phải xác - Phân tích: Phân tích nội dung nghệ thuật của tác phẩm
định những yêu cầu nào của để nêu ra nhận xét
đề bài - Suy nghĩ: Yêu cầu đề xuất nhận xét về tác phẩm trên
cơ sở một tư tưởng, một góc nhìn nào đó
- Cảm nhận: Là lưu ý đến ấn tượng, cảm thụ của người
viết phân tích tác phẩm để minh họa cho cảm nhận.
Ghi nhớ: Học sinh có thể sử dụng hệ thống câu hỏi
sau để tìm hiểu đề:
1. Đề yêu cầu nghị luận về vấn đề gì? (nhân vật? sự
kiện? chủ đề? nghệ thuật?...).
2. Vấn đề nghị luận được nêu trực tiếp hay gián
tiếp?
3. Vấn đề nghị luận được thể hiện bằng những luận
điểm nào?
Tìm ý
Tùy từng đề bài nghị luận cụ thể học sinh sẽ đưa ra
hệ thống câu hỏi sát hợp. Tuy nhiên học sinh có thể tham
khảo hệ thống câu hỏi tìm ý sau:
1. Đề yêu cầu nghị luận về vấn đề gì (nhân vật? sự
kiện? chủ đề? nghệ thuật?...)
2. Vấn đề nghị luận được thể hiện bằng những luận
điểm nào?
3. Những dấn chứng nào làm sáng tỏ cho từng luận
điểm?
4. Có những tác phẩm nào có nét tương đồng (nhân
- Muốn tìm ý cho một bài văn, vật? sự kiện? chủ đề? nghệ thuật? hoàn cảnh sáng tác?...)
người ta thường làm cách 5. Phong cách của nhà văn là gì? Phong cách ấy đã
nào? được thể hiện như thế nào trong tác phẩm?
Bước 2: Lập dàn ý
Mở bài:
- Dẫn dắt
- Giới thiệu tác phẩm (tùy theo yêu cầu cụ thể của đề
bài) và nêu ý kiến đánh giá sơ bộ của mình
Thân bài:
Lần lượt trình bày các luận điểm
Kết bài:
Nêu nhận định, đánh giá chung của mình về tác
phẩm truyện, đoạn trích
Bước 3: Trình bày bài - Yêu cầu chung
Về hình thức, bài viết phải có bố cục mạch lạc, có
luận điểm rõ ràng, luận cứ xác thực, phép lập luận phù
hợp; lời văn chính xác, sống động
- Dàn ý bài văn nghị luận có a. Mở bài
mấy phần - Trực tiếp (Không dẫn dắt)
- Nêu yêu cầu của phần mở - Gián tiếp (có dẫn dặt)- Có nhiều cách dẫn dắt khác
bài nhau:
Cách 1: Tác giả phong cách tác phẩm
nêu vấn đề nghị luận
Ví dụ
Lê Minh Khuê là nhà văn nữ có sở trường về truyện
- Nhiệm vụ của phần thân bài ngắn, với ngòi bút miêu tả tâm lý sắc sảo tinh tế. Người
ta dễ nhận thấy sự đa giọng điệu trong sáng tác của bà.
- kết bài Người đọc có thể nhận rõ sở trường, giọng điệu của nhà
văn trong truyện ngắn “Những ngôi sao xa xôi”. Tác
phẩm cho người đọc thấy được vẻ đẹp của những cô gái
- Viết bài hoàn chỉnh cần thanh niên xung phong trên tuyến lửa Trường Sơn
đảm bảo yêu cầu nào? Cách 2: Đề tài tác phẩm vấn đề nghị luận
Ví dụ:
Hình ảnh những cô gái thanh niên xung phong mở
đường Trường Sơn là đề tài của biết bao nhiêu tác phẩm
- Có mấy cách viết phần mở thi ca. Ta biết đến một nhạc khúc Cô gái mở đường của
bài? nhạc sỹ Xuân Giao, một thi phẩm “Gửi em cô thanh niên
xung phong” của Phạm Tiến Duật, một “Khoảng trời hố
bom” của Lâm Thị Mỹ Dạ. Một trong những truyện
ngắn viết thành công về đề tài này phải kể đến “Những
ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê. Tác phẩm cho
người đọc thấy được vẻ đẹp của những cô gái thanh niên
xung phong trên tuyến lửa Trường Sơn.
Cách 3: Đi từ hoàn cảnh thực tế (cuộc sống,
lịch sử ) tác phẩm vấn đề nghị luận
Ví dụ:
Năm 1971, cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước
bước vào giai đoạn cam go ác liệt. Giặc Mĩ bắn phá điên
cuồng, chúng muốn băm nát tuyến đường Trường Sơn
huyết mạch. Để thông đường ra chiến trường những
chiến sỹ Thanh niên xung phong đã kiên cường ngày
đêm bám trụ đối mặt với hiểm nguy, với cái chết. Chính
trong hoàn cảnh đó người chiến sỹ Thanh niên xung
phong đã ngời sáng lên những phẩm chất cao đẹp. Lê
Minh Khuê đã cho người đọc thấy được vẻ đẹp của
những cô gái thanh niên xung phong trên tuyến lửa Trường Sơn qua tác phẩm “Những ngôi sao xa xôi”.
Cách 4: Trích dẫn một vài câu thơ, lời bài hát
liên quan tới đề tài nghị luận tác phẩm vấn đề
nghị luận
Ví dụ:
“Ơi những cô con gái đang ngày đêm mở đường
Hỏi em bao nhiêu tuổi mà sức em phi thường ”
Lời bài hát gợi lên hình ảnh những cô gái Thanh
niên xung phong mở đường trên tuyến lửa Trường Sơn.
Chính họ đã góp một phần công sức không nhỏ trong
cuộc chiến đấu chống Mĩ kiên cường anh dũng của dân
tộc. Có rất nhiều tác phẩm đã viết về họ với biết bao
phẩm chất cao đẹp trong đó có truyên ngắn “Những ngôi
sao xa xôi”. Tác phẩm cho người đọc thấy được vẻ đẹp
của những cô gái thanh niên xung phongtrên tuyến lửa
Trường Sơn.
b. Thân bài
Các luận điểm viết đan xen các cách trình bày: diễn
dịch, quy nạp, Tổng phân hợp để tránh đơn điệu.
c. Kết bài
Cần viết ngắn gọn cô đọng cảm xúc
Bước 4: Đọc, kiểm tra lại bài viết
- Học sinh sửa lỗi chính tả, lỗi dùng từ, lỗi ngữ
pháp.
- Chú ý đến liên kết, mạch lạc giữa các câu trong
đoạn văn và các đoạn văn trong văn bản.
I. Nghị luận về tác phẩm thơ
1. Khái niệm
Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ là trình bày nhận
xét, đánh giá của mình về nội dung, nghệ thuật của
đoạn thơ, bài thơ ấy.
2. Yêu cầu
- Nội dung và nghệ thuật của một đoạn thơ, bài thơ
được thể hiện qua ngôn từ, hình ảnh, giọng điệu Bài
nghị luận cần phân tích được các yếu tố đó để có những
nhận xét cụ thể, xác đáng.
Nhắc lại khái niệm văn nghị - Bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ cần có bố
luận về một tác phẩm thơ cục mạch lạc rõ ràng, có lời văn gợi cảm, thể hiện rung
động chân thành của người viết
D. Củng cố hướng dẫn:
- Ôn tập lại lý thuyết
- Chuẩn bị bài sau: Luyện tập
Tiết 28
KỸ NĂNG LÀM VĂN NGHỊ LUẬN
A. Mục tiêu
- Giúp học sinh củng cố hệ thống lại kiến thức về kỹ năng làm bài văn nghị luận văn
học
- Học sinh luyện tập một số bài về các kiến thức được học
B. Chuẩn bị
- Giáo viên soạn giáo án
- Học sinh ôn lại các kiến thức đã học
C.Tiến trình các hoạt động dạy-học
- Ổn định
- Kiểm tra: sự chuẩn bị của học sinh
- Bài mới
Các bước làm bài nghị luận 3. Các bước làm bài
Bước 1: Tìm hiểu đề - Tìm ý
_ Yêu cầu của phân tìm hiểu Tìm hiểu đề
đề Học sinh phải xác định được:
- Đề bài yêu cầu viết về vấn đề gì? (nội dung nghị
luận)
- Đề bài yêu cầu thao tác nghị luận như thế nào?
- Giới hạn (một đoạn thơ hay cả bài thơ hay một
vấn đề của bài thơ)
- Giáo viên lưu ý học sinh Yêu cầu học sinh phân biệt được:
phân biệt các cách hỏi khác - Yêu cầu nghị luận được biểu thị bằng các từ:
nhau trong đề bài nghị luận: + Cảm nhận: Lưu ý đến ấn tượng, cảm thụ của
Cảm nhận, suy nghĩ, phân người viết,
tích..tránh nhầm lẫn + Phân tích: Như là chỉ định về phương pháp,
+ Suy nghĩ: Nhấn mạnh đến nhận định, phân tích
của người làm bài,
+ Không có lệnh: Trường hợp không có lệnh,
người viết bày tỏ ý kiến của mình về vấn đề được
nêu ra trong bài bằng sự lựa chọn phân tích hoặc
suy nghĩ.
(Sự khác biệt trên chỉ ở sắc thái, không phải là các
“kiểu bài” nghị luận khác nhau)
- Học sinh xác định đúng nội dung nghị luận trên
cơ sở cảm hiểu đoạn thơ, bài thơ.
- Học sinh phải xác định chuẩn giới hạn tránh
nhầm lẫn đề yêu cầu phân tích đoạn thì phân tích trọn
vẹn tác phẩm và ngược lại. - Tìm ý trong bài nghị luận Tìm ý
bằng cách nào? Tìm ý là quá trình học sinh tự đặt và trả lời các
câu hỏi xoay quanh vấn đề nghị luận. Tùy từng đề mà
học sinh sẽ đặt ra hệ thống câu hỏi sát hợp. Tuy nhiên
có thể vận dụng câu hỏi khái quát sau đây:
- Vấn đề nghị luận bao gồm mấy luận điểm? Là
những luận điểm nào?
- Những dẫn chứng nào làm sáng tỏ cho từng luận
điểm?
- Có những dẫn chứng nào (câu thơ, câu văn, danh
ngôn, tác phẩm ) liên quan tới vấn đề nghị luận (để
giúp học sinh so sánh, đối chiếu, bình, đánh giá tác
phẩm trong quá trình làm bài)?
- Phong cách của nhà thơ? Các tác phẩm tiêu biểu
thể hiện phong cách?
- Dàn ý bài nghị luận. Yêu Bước 2: Lập dàn ý
cầu của từng phần mở bài, Mở bài:
thân bài, kết bài - Dẫn dắt.
- Giới thiệu bài thơ, đoạn thơ và bước đầu nêu
khái quát nhận xét, đánh giá chung của mình về
bài thơ, đoạn thơ. (Nếu là đoạn thơ thì giới thiệu
rõ vị trí của đoạn thơ trong tác phẩm)
Thân bài:
Lần lượt trình bày các luận điểm (tùy theo yêu cầu
cụ thể của từng đề)
Kết bài:
Khẳng định giá trị, ý nghĩa của bài thơ, đoạn thơ.
- Khi viết bài hoàn chỉnh cần Bước 3: Viết bài hoàn chỉnh
lưu ý điều gì?( liên kết câu, Yêu cầu chung
liên kết đoạn) - Về hình thức: bài viết phải có kết cấu chặt chẽ,
bố cục mạch lạc, có luận điểm rõ ràng, luận cứ xác
thực, phép lập luận phù hợp; lời văn chính xác, sống
động.
- Không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp, chữ
viết cẩn thận, sạch đẹp.
- Về nội dung: phải đầy đủ, đúng, trúng vấn đề
nghị luận mà đề bài yêu cầu.
- Có mấy cách mở bài trong Gợi ý dựng đoạn
bài nghị luận. a. Mở bài
- Trực tiếp (không dẫn dắt)
- Gián tiếp (có dẫn dắt) - Có nhiều cách dẫn dắt
khác nhau:
Cách 1: Tác giả phong cách tác phẩm nêu vấn đề nghị luận.
Cách 2: Đề tài tác phẩm vấn đề nghị luận.
Cách 3: Đi từ hoàn cảnh thực tế (cuộc sống, lịch
sử ) tác phẩm vấn đề nghị luận.
Cách 4: Trích dẫn một vài câu thơ, lời bài hát liên
quan tới đề tài nghị luận tác phẩm vấn đề
nghị luận.
Cách 5: Từ thể loại đến tác phẩm vấn đề nghị
luận.
Ví dụ:
- Cách 1: Hữu Thỉnh làm thơ không nhiều nhưng
ông đã sớm khẳng định một phong cách riêng: Nhẹ
nhàng mà sâu lắng, nhiều chất dân gian và chất triết lý
sâu sắc. Có lẽ vì thế thơ ông mang đến cho bạn đọc
những cảm xúc mới mẻ về tâm hồn con người - một
thế giới còn ẩn chứa bao điều bất ngờ thú vị. Phong
cách ấy được thể hiện rất rõ trong bài thơ “Sang thu”
- Cách 2: Mùa thu là đề tài quen thuộc của thi
nhân. Ta biết đến một chùm thơ thu nức danh của cụ
Tam Nguyên Yên Đổ, một “Tiếng thu” của Lưu Trọng
Lư, một “Đây mùa thu tới” của Và Hữu Thỉnh đã
góp một thi phẩm vào trong vườn thơ thu ấy đó là
“Sang thu”. Tưởng như thơ viết về mùa thu đã qua
nhiều dễ gây nhàm chán song đến với “Sang thu” của
Hữu Thỉnh người đọc thấy được sự sáng tạo rất tài tình
của ông. Đọc Sang thu đã có ý kiến cho rằng: “Chỉ 12
câu thơ năm chữ mà anh đã vẽ lên một bức tranh sang
thu vừa đúng vừa đẹp lại có tình, có chiều sâu suy
nghĩ”
- Cách 3:
“Sáng mát trong như sáng năm xưa
Gió thổi mùa thu hương cốm mới”
Thu sang, gió heo may nhè nhẹ, hương cốm
thoảng đưa. Đây là thời điểm dễ gợi trong lòng người
bao cảm xúc buồn dịu nhẹ vấn vương .Viết về giây
phút giao mùa từ hạ sang thu Hữu Thỉnh đã thể hiện
những cảm nhận tinh tế, những sáng tạo độc đáo qua
thi phẩm “Sang thu”
- Cách 5: Từ xưa đến nay thể thơ năm chữ được
coi là thể thơ đắc địa trong việc thể hiện cảm xúc suy
tuy chất chứa đan xen chất tự sự. Ta biết đến một
“Tĩnh dạ tứ” của Lí Bạch một “Ông đồ” của Vũ Đình
Liên, một “Ánh trăng” của Nguyễn Duy. Trong số những tác phẩm thành công về thể thơ này ta không
thể không kể đến bài “Sang thu” của Hữu Thỉnh. Bằng
thể thơ năm chữ với những hình ảnh giàu sức biểu cảm
Hữu Thỉnh đã cho ra thấy những cảm nhận tinh tế về
sự sang thu của đất trời cũng như của con người.
b. Thân bài
Các luận điểm viết đan xen các cách trình bày:
diễn dịch, quy nạp, tổng phân hợp để tránh đơn điệu.
c. Kết bài
Cần viết ngắn gọn cô đọng hàm súc.
Bước 4: Đọc, kiểm tra, sửa l i
- Học sinh sửa lỗi chính tả, lỗi dùng từ, lỗi ngữ
pháp.
- Chú ý đến liên kết, mạch lạc giữa các câu trong
đoạn văn và các đoạn văn trong văn bản.
D. Củng cố hướng dẫn:
- Ôn tập lại lý thuyết
TIẾT 29: CÁCH VIẾT MỞ BÀI VÀ KẾT BÀI TRONG BÀI VĂN NGHỊ LUẬN
VĂN HỌC
A.Mục tiêu:
- Hiểu một cách đầy đủ về chức năng của mở bài và kết bài trong bài văn nghị luận.
- Nắm vững hơn các kiểu mở bài và kết bài thông dụng trong văn nghị luận.
- Có ý thức vận dụng một cách linh hoạt các kiểu mở bài và kết bài trong khi viết văn nghị
luận.
- Biết nhận diện những lỗi thường mắc khi viết mở bài, kết bài và có ý thức tránh những lỗi
này.
B.Chuẩn bị: giáo án, tài liệu tham khảo
C.Bài mới
I. Một số cách viết mở bài
1. Mở bài bằng nhận định tác giả và quan niệm sáng tác
2. Mở bài bằng chủ đề hay hình tượng trung tâm
3. Mở bài bằng lí luận văn học 1. Mở bài bằng nhận định tác giả và quan niệm sáng tác
Nếu bạn mở bài bằng cách nêu quê quán, năm sinh, năm mất, cuộc đời của tác giả, cách
mở bài này rất rập khuôn và hạn định khả năng của người viết. Thay vì vẫn bắt đầu bằng
các thói quen cũ là năm sinh, quê quán, sự nghiệp của tác giả như vậy, bạn hãy mở bài
bằng cách dẫn dắt một nhận định của nhà phê bình văn học nào đó về tác giả hoặc bạn
nêu quan điểm sáng tác của tác giả đó.
Ví dụ: Khi mở bài đề “ Cảm nhận của em về đoạn trích chiếc lược ngà của Nguyễn
Quang Sáng”
Cách 1: Lối mở bài thông thường
Nguyễn Quang Sáng sinh năm 1932, quê ở Chợ Mới, tỉnh An Giang. Trong những năm
kháng chiến chống Mỹ ông sống và hoạt động tại chiến trường Năm Bộ. Ông đã để lại
nhiều tác phẩm đăc sắc tiêu biểu với nhiều thể loại khác nhau như truyện ngắn: Con chim
vàng, Người quê hương, Chiếc lược ngà, Bông cẩm thạch tiểu thuyết có: Đất lửa, Mùa
gió chướng, Dòng sông thơ ấu Ngoài ra còn có một số kịch bản phim lưu trữ trong
lòng người như: Một thời đã nhớ.
Truyện ngắn “ chiếc lược ngà” viết vào tháng 9/1966 tại chiến trường Nam Bộ trong thời
kì kháng chiến chống Mỹ ác liệt, ca ngợi tình cảm đồng chí, cha con sâu sắc.
Cách 2: Lối viết theo cách đưa ra một nhận định
Có một nhà văn đã nói rằng : “Không có câu chuyện cổ tích nào đẹp bằng chính cuộc
sống viết ra”. Cuộc chiến tranh chống Mĩ của dân tộc ta với biết bao câu chuyện đã trở
thành huyền thoại được các nhà văn ghi lại như những câu chuyện cổ tích hiện đại. Trong
số ấy phải kể đến “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng. Câu chuyện đã thể hiện
thật cảm động tình cảm cha con sâu nặng và cao đẹp trong cảnh ngộ éo le của chiến
tranh.
Văn bản đoạn trích là ở phần giữa câu chuyện, tập trung thể hiện sâu sắc và cảm động
tình cha con của ông Sáu và bé Thu qua những tình huống bất ngờ mà tự nhiên, hợp lí.
Đó không chỉ là một tình cảm muôn thuở, có tính nhân bản bền vững, mà còn được thể hiện trong hoàn cảnh ngặt nghèo, éo le của chiến tranh và trong cuộc sống nhiều gian
khổ, hi sinh của người cán bộ cách mạng.
Khi bạn mở bài theo cách hai bạn sẽ thể hiện được sự am hiểu kiến thức văn học của bạn
về tác giả, những nhận định của những nhà phê bình văn học hay quan niệm sáng tác lúc
nào cũng “đúng”, “trúng” và đặc biệt có vần, âm điệu rất dễ đi vào lòng người, thuyết
phục người đọc. Tuy nhiên, điều đặc biệt là bạn phải có sự hiểu biết sâu rộng về nhà văn
cũng như nhà phê bình văn học, bạn phải học thuộc và ghi nhớ tốt các câu nhận định để
tránh các trường hợp “râu ông nọ cắm cằm bà kia”.
2. Mở bài bằng chủ đề hay hình tượng trung tâm
Chủ đề là các khái quát bao trùm lên toàn bộ tác phẩm, toàn bài thơ, là mạch chính của
toàn bộ tác phẩm. Hình tượng trung tâm có thể là nhân vật chính hay hình tượng mà nhà
văn xây dựng lên.
Nếu như các bạn có thể mở bài bằng chủ đề hoặc hình tượng trung tâm thì bài viết sẽ
mang tính khái quát cao hơn từ đó cho người chấm thấy rằng bạn có đọc qua và nắm
vững được nội dung tác phẩm, biết cách liên quan tới chủ đề chính mà tác phẩm hướng
tới. Tuy nhiên để mở bài tốt bằng cách này bạn phải đọc tác phẩm, nắm được nội dung
cốt truyện, nhân vật chính, tình tiết và cả những tư tưởng của tác giả.
Ví dụ: Bài “ Đồng chí” của Chính Hữu trong ngữ văn 9 tập 2.
Cách 1: Văn học hiện đại Việt Nam trong thời kì chống ngoại xâm đã thể hiện một cách
chân thực, sáng tạo và độc đáo về hình ảnh thế hệ trẻ Việt Nam anh hùng quyết tâm gìn
giữ, bảo vệ Tổ quốc. Họ mang trong mình nhiệt huyết chiến đấu sục sôi, quên đi lợi ích
riêng của bản thân để cống hiến cho đất nước.
Nghe theo tiếng gọi nồng nàn, cháy bỏng trong tim, họ sẵn sàng bước chân vào cuộc đời
người lính. Và “Đồng chí” là tất cả những lời thơ mà Chính Hữu muốn ngợi ca sự cao
đẹp của tình đồng đội trong kháng chiến họ dành cho nhau.
Cách 2: Vào những năm kháng chiến chống Pháp, đất nước ta sục sôi ý chí, quyết tâm
đánh giặc. Hoà mình vào khí thế ấy đã có hàng vạn, hàng triệu thanh niên nhập ngũ.
Những chiến sĩ dũng cảm, can trường ấy đã trở thành một hình tượng, một đề tài trong thơ ca thời đó. Một trong những bài thơ rất hay về người chiến sĩ, về tình đồng đội là bài
Đồng chí của nhà thơ lính Chính Hữu.
Cách 3: Tình cảm là thứ quan trọng nhất đối với mỗi con người. Nó như dòng nước ngọt
ngào chảy dọc trong ống nhựa tắm mát tâm hồn ta, tưới nước cho cái hạt giống tinh thần
bên trong ta nảy nở. Thiếu đi cái ngọt ngào của tình cảm, tả sẽ chỉ như cái ống nước rỗng
ruột, khô cứng, tâm hồn ta sẽ chẳng khác gì hoang mạc cằn khô nứt nẻ.
Tình cảm trong chiến tranh, trong những mưa bom bão đạn, những khói lửa mịt mù lại
càng đáng nhớ hơn, nó thể hiện sự gắn bó, yêu thương không điều kiện, đồng cam cộng
khổ vượt qua những chông gai của cuộc chiến. Thứ tình cảm thiêng liêng ấy không gì
khác chính là tình đồng chí. Nhà thơ Chính Hữu đã viết về tình cảm cao đẹp ấy, đồng
thời tái hiện lài một cách chân thực hình ảnh người lính chống Pháp, qua bài thơ “Đồng
chí” của ông.
3. Mở bài bằng lí luận văn học
Lý luận văn học là bộ môn nghiên cứu văn học ở bình diện lý thuyết khái quát cao, bao
gồm trong đó có sự nghiên cứu bản chất của sáng tác văn học, chức năng xã hội, thẩm mỹ
của nó, đồng thời xác định được phương pháp luận và phương pháp phân tích văn học.
Khi các bạn có thể mở bài bằng lý luận văn học sẽ tạo được ấn tượng rất tốt về phần mở
bài, Bởi lý luận văn học rất khô khan và cứng nhắc nếu như vận dụng được thì bài văn sẽ
có giá trị cao về mặt ý nghĩa. Tuy nhiên khi mở bài bằng cách này thì bạn cần đọc qua
nhiều bài lý luận văn học hoặc có nghiên cứu về lý luận văn học, có một chút năng khiếu
và kỹ năng viết văn.
Ví dụ: Khi vấn đề nghị luận liên quan đến bài thơ “ Đàn ghi ta của Lorca” ( Tác giả
Thanh Thảo,). Bạn có thể vận dụng kiến thức về quy luật kế thừa, cách tân trong văn học,
đây là cách mở bài kết hợp giữa lý luận văn học và chủ đề sáng tạo là hình tượng nghệ sĩ
tài hoa mà bất hạnh của chung 3 nhà thơ, 3 thời kỳ
“Văn học bao đời nay đố kỵ sự trùng lặp nhưng lại không phủ nhận những kế thừa,
cách tân giữa các thế hệ cầm bút. Bởi vậy mà thế kỷ XIII, đại thi hào Nguyễn Du đã khóc
thương nàng Tiểu Thanh tài hoa mệnh bạc, Tố Hữu tiếc thương cụ Tiên Điền 200 năm sau và đến lượt Thanh Thảo, nhà thơ không khỏi xúc động cúi mình trước Lorca, thi sĩ
bất hạnh xứ Tây ban cầm”
Mở bài là cách mở đầu một bài viết, là những nhận định, đánh giá rằng bài viết đó có ấn
tượng và độc đáo hay không? Gia sư văn tại nhà tin rằng đó là một số kỹ năng bổ ích
giúp bạn cải thiện được khả năng viết văn của mình.
Tiết 30
CÁCH VIẾT MỞ BÀI VÀ KẾT BÀI TRONG BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VĂN HỌC
A.Mục tiêu:
- Hiểu một cách đầy đủ về chức năng của mở bài và kết bài trong bài văn nghị luận.
- Nắm vững hơn các kiểu mở bài và kết bài thông dụng trong văn nghị luận.
- Có ý thức vận dụng một cách linh hoạt các kiểu mở bài và kết bài trong khi viết văn nghị
luận.
- Biết nhận diện những lỗi thường mắc khi viết mở bài, kết bài và có ý thức tránh những lỗi
này.
B.Chuẩn bị: giáo án, tài liệu tham khảo
C.Bài mới
II.Hướng dẫn các cách viết kết
Để một bài văn được trọn vẹn và hấp dẫn người đọc, gây ấn tượng với người chấm thì
học sinh cần rèn cách viết kết bài sao cho đúng ý và hay. Dưới đây là những hướng dẫn
cụ thể của cô Phượng về các cách viết kết bài hay đối với bài văn dạng nghị luận văn
học.
1.Cách viết kết bài theo kiểu truyền thống
Với cách kết bài này, học sinh cần đảm bảo được các nội dung như sau: Tóm lược lại vấn
đề, nghĩa là khẳng định lại vấn đề cần nghị luận; sau đó cần đánh giá về thành công của
tác giả; cuối cùng là đưa ra bài học để nâng cao quan điểm.
Ví dụ: “Bài thơ “Đồng chí” với ngôn ngữ chân thực, hình ảnh lãng mạn, nụ cười ngạo
nghễ của các chiến sĩ đã lay động biết bao trái tim con người. Sự mộc mạc và tinh tế của
Chính Hữu đã tạo nên dấu ấn đặc biệt cho tác phẩm. Vẻ đẹp của người lính nông dân sống mãi với quê hương, với Tổ quốc, với thế hệ hôm nay, ngày mai hay mãi mãi về
sau.”
2.Cách viết kết bài mở rộng và nâng cao vấn đề
Cách kết bài này đòi hỏi học sinh phải đưa lí luận vào trong phần kết bài. Cụ thể: Gói lại
vấn đề cần nghị luận, khẳng định tài năng sử dụng nghệ thuật của tác giả và bài học nâng
cao quan điểm. Kết bài này thường dành cho học sinh có học lực khá trở lên. Tuy nhiên
khi viết học sinh nên trong chừng mực đừng đi quá xa vấn đề dẫn đến bị lạc đề.
Ví dụ: “Xuân Diệu quan niệm: Thơ là hiện thực, thơ là cuộc đời, thơ còn là thơ nữa”.
Chính Hữu đã đem hiện thực ấy vào trong trang viết của mình một cách tự nhiên, đồng
thời ông cũng khiến con tim người đọc tan chảy khi chứng kiến tình đồng chí, đồng đội
gắn bó keo sơn trong tột cùng gian khổ. Quả thực văn học chân chính nằm ngoài sự băng
hoại của thời gian, nên hình tượng người lính trong “Đồng chí” vẫn sáng ngời cho đến
tận hôm nay và mãi mãi về sau.”
3.Cách viết kết bài vận dụng kiến thức thực tế
Cách viết kết bài này người viết đi từ thực tế vào trong tác phẩm, khiến cho bài viết
không bị nhàm chán, đóng khung.
Ví dụ: “Mỗi lần có dịp đi qua quảng trường Ba Đình lịch sử, ta vẫn thấy dòng người như
bất tận vào lăng viếng Bác. Ta chợt nhớ tới bài thơ “Viếng lăng Bác” của Viễn Phương
với những ước nguyện cao đẹp dâng hiến lên Người. Bác đã đi xa và Viễn Phương cũng
đã trở thành người thiên cổ nhưng dư âm của bài thơ sẽ còn mãi ngân vang.”
*Gv: yêu cầu hs luyện đề
Tổ CM duyệt
Tạ Thị Nhung
File đính kèm:
giao_an_tu_chon_ngu_van_9_chu_de_van_ban_va_tao_lap_van_ban.pdf



