Giáo án dạy thêm Ngữ văn 9 - Buổi 17: Nghị luận về 1 đoạn thơ, bài thơ - Năm 2023-2024

pdf10 trang | Chia sẻ: KA KA | Ngày: 16/01/2026 | Lượt xem: 5 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Giáo án dạy thêm Ngữ văn 9 - Buổi 17: Nghị luận về 1 đoạn thơ, bài thơ - Năm 2023-2024, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Ngày 25/3/2024 BUỔI 17 NGHỊ LUẬN VỀ MỘT ĐOẠN THƠ, BÀI THƠ I. Mục tiêu cần đạt : 1. Kiến thức: Hướng dẫn học sinh hiểu về kiểu làm văn nghị luận đoạn thơ, bài thơ. Biết cách làm bài nghị luận về đoạn thơ, bài thơ. 2. Kỹ năng: Phân tích, cảm nhận về nội dung cũng như nghệ thuật của một đoạn thơ, bài thơ. 3. Thái độ, phẩm chất: Cảm nhận được vẻ đẹp của thơ ca, hướng tới những điều tốt đẹp trong cuộc sống. 4. Năng lực: Cảm thụ thơ, viết bài văn nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ. II. Tiến trình lên lớp Tiết 1: A. Hệ thống lại kiến thức đã học (10-15 phút) Hoạt động của GV - HS Kiến thức cần đạt -GV hướng dẫn học sinh ôn lại khái niệm nghị I.Ôn lại khái niệm: luận về một đoạn thơ, bài thơ. Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ là trình bày nhận xét, đánh giá của mình về nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ, bài thơ ấy. -GV yêu cầu HS nêu một số đề nghị luận về II. Ví dụ đề minh họa một đoạn thơ, bài thơ. - Phân tích bài thơ “Đồng chí” của Chính -GV:Phân biệt cho HS dạng “phân tích” và Hữu để thấy được vẻ đẹp của tình đồng “cảm nhận” chí, đồng đội của những người lính trong + Khi đề bài yêu cầu phân tích, tức là đòi hỏi thời kì kháng chiến chống Pháp. phải xem xét tác phẩm một cách toàn diện, - Cảm nhận về tình bà cháu qua bài thơ khách quan từ hình thức đến nội dung. Phải “Bếp lửa” của Bằng Việt. tìm hiểu ngôn từ, hình ảnh, giọng điệu Điều - Phân tích ba khổ thơ đầu của bài thơ “ quan trọng là khi gặp dạng đề này, cần phân Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải để thấy tích dẫn chứng trước, rút ra nhận xét, đánh giá được cảm xúc của nhà thơ trước mùa xuân sau. của thiên nhiên đất trời và mùa xuân đất + Cảm nhận là trình bày những suy nghĩ, cảm nước. xúc, nhận xét , đánh giá của mình về cái hay, cái đẹp của tác phẩm. Cảm nhận thường xoáy vào những ấn tượng chủ quan của người viết về những điểm sáng nghệ thuật trong tác phẩm thơ. Vì vậy, người viết cần lắng nghe, chắt lọc những cảm xúc , những rung động của chính mình xem yếu tố nào gây ấn tượng sâu đậm nhất . Ấn tượng về tác phẩm càng sâu đậm bao nhiêu thì bài viết cảm nhận càng xúc động, sâu sắc bấy nhiêu. B. Cách làm bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ: Hoạt động của GV - HS Kiến thức cần đạt Ví dụ: Phân tích đoạn đầu bài thơ “Đồng (Có rất nhiều cách làm nhưng đây là cách tôi chí” của Chính Hữu để thấy được cơ sở thấy đơn giản nhất và các em HS dễ vận dụng hình thành tình đồng chí. vô làm nhất, đặc biệt là đối với đối tượng HS - GV hướng dẫn cách làm và đưa ra ví dụ TB và TB yếu.) minh họa cho HS nắm được từng bước. DÀN Ý CHUNG I/ Mở bài I/ Mở bài - Giới thiệu tác giả, tác phẩm: Chính Hữu - Giới thiệu tác giả, tác phẩm; là một trong những nhà thơ trưởng thành - Giới thiệu vấn đề nghị luận; trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và (Nếu có nhận định trong đề bài thì phải trích chống Mỹ. Bài thơ “Đồng chí” được sáng nguyên văn nhận định đó trong phần mở tác vào năm 1948 in trong tập "Đầu súng bài) trăng treo" là một trong những bài thơ nổi - Trích dẫn đoạn thơ. (Nếu phân tích đoạn tiếng của ông. thơ) - Giới thiệu vấn đề nghị luận; - Trích dẫn đoạn thơ. Bài thơ đã thể hiện thành công hình ảnh người lính trong cuộc kháng chiến chống Pháp với vẻ đẹp bình dị và giàu tình đồng chí, đồng đội. Trong đó, đoạn thơ đầu tiên đã cho người đọc thấy được cơ sở hình thành tình đồng chí: “Quê hương anh nước mặn đồng chua ................................................................ Đồng chí!” - HS dựa trên gợi ý của GV viết một mở bài hoàn thiện trong vòng khoảng 10 phút. -GV mời một số HS đọc mở bài của mình để lớp nghe, nhận xét, góp ý. GV sẽ đánh giá mở bài của HS chỉ ra chỗ tốt, chưa tốt để các em rút kinh nghiệm. - GV hướng dẫn, gợi ý để những em học khá, giỏi có thể có những cách mở bài gián tiếp hay hơn. Tiết 2: GV tiếp tục hướng dẫn các em cách làm phần TB và KB Hoạt động của GV - HS Kiến thức cần đạt II/ Thân bài II/ Thân bài a. Nêu khái quát về hoàn cảnh sáng tác, a. Nêu khái quát về ý nghĩa nhan đề, mạch xuất xứ, ý nghĩa nhan đề, mạch cảm xúc: cảm xúc, cái nhìn chung về đoạn thơ / bài Bài thơ theo thể tự do, có hai mươi dòng, thơ chia làm ba đoạn. Cả bài thơ tập trung thể b. Phân tích, nhận xét, đánh giá về nội hiện vẻ đẹp và sức mạnh của tình đồng chí, dung, nghệ thuật đoạn thơ, bài thơ theo các đồng đội. Mạch cảm xúc của bài thơ được bước: khơi nguồn từ cơ sở hình thành tình đồng - B1: Nêu luận điểm 1; chí, mở rộng ra những biểu hiện của tình - B2: Trích dẫn thơ của luận điểm 1 (LĐ1); đồng chí nơi chiến hào và kết đọng lại hình - B3: Nhận xét, đánh giá về nghệ thuật, nội ảnh đẹp giàu ý nghĩa biểu tượng ở cuối bài dung, các hình ảnh thơ; thơ. - B4: Liên hệ, mở rộng (nếu có) b. Phân tích, nhận xét, đánh giá về nghệ - B5: Chốt lại ý LĐ1, chuyển ý sang LĐ2 thuật, nội dung: (LĐ2 lặp lại các bước như của LĐ1) b. Luận điểm 1: Hai dòng thơ đầu tiên, tác c. Đánh giá về nghệ thuật, nội dung tiêu giả giới thiệu hoàn cảnh xuất thân của người biểu của đoạn thơ, bài thơ. lính: (B1) “Quê hương anh nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá” (B2) Giọng điệu thủ thỉ, tâm tình như lời kể chuyện, tâm sự của hai người đồng đội nhớ lại kỉ niệm về những ngày đầu tiên gặp gỡ. Chính Hữu đã thật khéo léo dùng từ ngữ sóng đôi “Quê hương anh” và “Làng tôi”, thêm vào đó là cách sử dụng thành ngữ “nước mặn đồng chua” và từ ngữ gợi tả “đất cày lên sỏi đá” để cho thấy dù ở những miền quê khác nhau nhưng những người lính đều có chung hoàn cảnh xuất thân nghèo khó, họ đều là những người nông dân mặc áo lính. (B3) Nếu những người lính trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng xuất thân là những trí thức Hà Nội có cái hào hoa, phong nhã thì những người lính trong “Đồng chí” xuất thân từ nông dân nên chúng ta thấy ở họ sự mộc mạc, gần gũi đến lạ. (B4) Không chỉ chung nhau hoàn cảnh xuất thân nghèo khó mà những người lính còn có chung nhiệm vụ, lí tưởng. (B5) c. Đánh giá về nghệ thuật, nội dung tiêu biểu của đoạn thơ, bài thơ: Với ngôn ngữ mộc mạc, giản dị và việc sử dụng ngôn từ nghệ thuật một cách đặc sắc (từ ngữ sóng đôi, thành ngữ, ẩn dụ, điệp ngữ,...) Chính Hữu đã cho người đọc hiểu rõ về cơ sở hình thành tình đồng chí. III/ Kết bài: III/ Kết bài: Cảm nhận chung về tác phẩm. Chỉ với bảy dòng thơ ngắn gọn, súc tích, - Khái quát về giá trị, ý nghĩa của bài thơ/ nhà thơ Chính Hữu đã để lại ấn tượng tốt đoạn thơ. đẹp trong lòng người đọc về hình ảnh người - Nêu vị trí tác phẩm, tác giả trong nền văn lính cụ Hồ trong thời kì đầu của cuộc kháng học. chiến chống Pháp. Chính điều này đã góp - Nêu suy nghĩ, bài học liên hệ bản thân. phần làm nên thành công và sức sống của bài thơ trong lòng bạn đọc bao thế hệ. Là học sinh sinh ra ở thời bình, qua đoạn thơ em càng hiểu và trân trọng hơn tình cảm tốt đẹp của những người lính cụ Hồ trong thời kì kháng chiến chống Pháp. - Sau khi hướng dẫn GV cho HS 10 phút để thực hành viết đoạn kết bài rồi cho các em đọc để chỉnh sửa cho các em rút kinh nghiệm. Tiết 3: Luyện tập : Hoạt động của GV - HS Kiến thức cần đạt - Hình thức tổ chức luyện tập: 1. Mở bài: Tiết trước GV sẽ giao nhiệm vụ cho mỗi tổ Thơ xưa cũng như nay, thiên nhiên chuẩn bị một bài thuyết trình độc lập dựa luôn là nguồn cảm hứng sáng tác vô tận cho vào dàn ý chung với đề: Trình bày cảm các nhà văn, nhà thơ. Đặc biệt là ánh trăng. nhận về bài thơ “Ánh trăng” của Nguyễn Xưa, Lý Bạch khi đối diện với vầng trăng đã Duy. giật mình thảng thốt nhớ cố hương. Nay, - GV: Hãy xác định yêu cầu của đề. Nguyễn Duy, một nhà thơ tiêu biểu cho thế - HS: Nghị luận về bài thơ “Ánh trăng”. hệ trẻ sau năm 1975 cũng góp vào mảng thơ Dạng bài: trình bày cảm nhận. thiên nhiên một ánh trăng.Và đối diện trước - GV cho Hs thuyết trình theo tổ và chốt lại vầng trăng, người lính đã giật mình về sự một số điểm cần lưu ý cho HS. Dàn ý bên vô tình trước thiên nhiên, vô tình với những chỉ có tính chất tham khảo cho HS. kỉ niệm nghĩa tình của một thời đã qua. Bài thơ “Ánh trăng” giản dị như một niềm ân hận trong tâm sự sâu kín ấy của nhà thơ. 2. Thân bài: a. Giới thiệu khái quát, mạch cảm xúc: Mạch cảm xúc của bài thơ được khơi nguồn từ hiện tại đối diện với vầng trăng, từ đó khiến nhà thơ nhớ về những năm tháng gian lao gắn bó với trăng trong quá khứ để rồi cảm xúc lắng lại trong những suy ngẫm, thức tỉnh trong cái “giật mình” đáng trân trọng của nhân vật trữ tình. b. Cảm nhận nội dung và nghệ thuật của bài thơ: * Cảm nghĩ về vầng trăng quá khứ *Cảm nghĩ về vầng trăng hiện tại. Trước hết là hình ảnh vầng trăng tình nghĩa, Vầng trăng - người dưng qua đường. hiền hậu, bình dị gắn liền với kỉ niệm một - Sau tuổi thơ và chiến tranh, người lính từ thời đã qua, một thời nhà thơ hằng gắn bó. giã núi rừng trở về thành phố - nơi đô thị - Ánh trăng gắn với những kỉ niệm trong hiện đại. Khi đó mọi chuyện bắt đầu đổi sáng thời thơ ấu tại làng quê: khác: “Hồi nhỏ sống với rừng Từ hồi về thành phố Với sông rồi với biển” Quen ánh điện cửa gương - Nhớ đến trăng là nhớ đến không gian Vầng trăng đi qua ngõ bao la. Những “đồng, sông, bể” gọi một Như người dưng qua đường vùng không gian quen thuộc của tuổi ấu thơ, - Vầng trăng tri kỉ ngày nào nay đã trở có những lúc sung sướng đến hả hê được thành “người dưng” - người khách qua chan hoà, ngụp lặn trong cái mát lành của đường xa lạ, còn con người đâu còn son sắt quê hương như dòng sữa ngọt. thuỷ chung? => Một sự thay đổi phũ phàng - Những năm tháng gian lao nơi chiến khiến người ta không khỏi nhói đau. Tình trường, trăng thành người bạn tri kỉ, gắn với cảm xưa kia nay chia lìa. những kỉ niệm không thể nào quên của cuộc - NT đối lập với khổ 1,2, giọng thơ thầm thì chiến tranh ác liệt của người lính trong rừng như trò chuyện tâm tình, giãi bày tâm sự với sâu: khi trăng treo trên đầu súng, trăng soi chính mình. Tác giả đã lí giải sự thay đổi sáng đường hành quân. Vầng trăng ấy cũng trong mối quan hệ tình cảm một cách lô gíc. là “quầng lửa” theo cách gọi của nhà thơ - Vì sao lại có sự xa lạ, cách biệt này? Phạm Tiến Duật. Trăng thành người bạn + Sự thay đổi của hoàn cảnh sống - không chia sẻ ngọt bùi, đồng cảm cộng khổ và gian khác biệt, thời gian cách biệt, điều kiện những mất mát hi sinh, vầng trăng trở thành sống cách biệt: Từ hồi về thành phố, người người bạn tri kỉ với người lính. lính xưa bắt đầu quen sống với những tiện “Hồi chiến tranh ở rừng nghi hiện đại như “ánh điện, cửa gương”. Vầng trăng thành tri kỉ Cuộc sống công nghiệp hoá, hiện đại hoá Trần trụi với thiên nhiên của điện gương đã làm át đi sức sống của Hồn nhiên như cây cỏ ánh trăng trong tâm hồn con người. Trăng Ngỡ không bao giờ quên lướt nhanh như cuộc sống hiện đại gấp gáp, Cái vầng trăng tình nghĩa” hối hả không có điều kiện để con người nhớ - Con người khi đó sống giản dị, thanh cao, về quá khứ. Và anh lính đã quên đi chính chân thật trong sự hoà hợp với thiên nhiên ánh trăng đã đồng cam cộng khổ cùng trong lành: “trần trụi với thiên nhiên - hồn người lính, quên đi tình cảm chân thành, nhiên như cây cỏ”. Cuộc sống trong sáng và quá khứ cao đẹp nhưng đầy tình người. Câu đẹp đẽ lạ thường. thơ dưng dưng - lạnh lùng - nhức nhối, xót - Hôm nay, cái vầng trăng tri kỉ, tình nghĩa xa miêu tả một điều gì bội bạc, nhẫn tâm ấy đã là quá khứ kỉ niệm của con người. Đó vẫn thường xảy ra trong cuộc sống. Có lẽ là một quá khứ đẹp đẽ, ân tình, gắn với hạnh nào sự biến đổi về kinh tế, về điều kiện phúc và gian lao của mỗi con người và của sống tiện nghi lại kéo theo sự thay dạ đổi đất nước. lòng? (liên hệ: bởi thế mà ca dao mới lên - Lời thơ kể không tả mà có sức gợi nhớ, âm tiếng hỏi: “Thuyền về có nhớ bến chăng?”; điệu của lời thơ như trùng xuống trong mạch Tố Hữu, nhân dân Việt bắc ở lại cũng băn cảm xúc bồi hồi. khoăn một tâm trạng ấy khi tiễn đưa cán bộ về xuôi: Mình về thành thị xa xôi Nhà cao còn thấy núi đồi nữa chăng? Phố đông còn nhớ bản làng Sáng đêm còn nhớ mảnh trăng giữa rừng? => Từ sự xa lạ giữa người với trăng ấy, nhà thơ muốn nhắc nhở : đừng để những giá trị vật chất điều khiển chúng ta.... Niềm suy tư của tác giả - Sự xuất hiện trở lại của vầng trăng thật đột ngột, ở vào một thời điểm không ngờ. Tình huống mất điện đột ngột trong đêm khiến con người vốn đã quen với ánh sáng, không thể chịu nổi cảnh tối om nơi căn phòng buyn đinh hiện đại. Ba động từ “vội, bật, tung” đặt liền nhau diễn tả sự khó chịu và hành động khẩn trương, hối hả của tác giả để đi tìm nguồn sáng. Và hình ảnh vầng trăng tròn tình cờ mà tự nhiên, đột ngột hiện 3. Kết bài. ra vằng vặc giữa trời, chiếu vào căn phòng - Bài thơ khép lại nhưng đã để lại ấn tượng tối om kia, chiếu lên khuôn mặt đang ngửa sâu sắc trong lòng người đọc. Nguyễn Duy - lên nhìn trời, nhìn trăng kia. một phong cách rất giản dị nhưng mang triết => Tình huống gặp lại trăng là bước ngoặt lí sâu xa. Nó gợi ra trong lòng chúng ta tạo nên sự chuyển biến mạnh mẽ trong tình nhiều suy ngẫm sâu sắc về cách sống, cách cảm và suy nghĩ của nhân vật trữ tình với làm người, đạo lí “uống nước nhớ nguồn” vầng trăng. Vầng trăng đến đột ngột đã làm ân nghĩa thuỷ chung cùng quá khứ. sáng lên cái góc tối ở con người, đánh thức - Là HS, qua em nhận thấy mình cần phải sự ngủ quên trong điều kiện sống của con phát huy đạo lí “uống nước nhớ nguồn” của người đã hoàn toàn đổi khác. dân tộc, luôn trân trọng quá khứ để không - Bất ngờ đối diện với vầng trăng, con phải hối hận, ăn năn như nhân vật trữ tình người đã có cử chỉ, tâm trạng: trong bài thơ. Ngửa mặt lên nhìn mặt Có cái gì rưng rưng. - Tư thế “ngửa mặt lên nhìn mặt” là tư thế đối mặt: “mặt” ở đây chính là vầng trăng tròn. Con người thấy mặt trăng là thấy được người bạn tri kỉ ngày nào. Cách viết thật lạ và sâu sắc! - Cảm xúc “rưng rưng” là biểu thị của một tâm hồn đang rung động, xao xuyến, gợi nhớ gợi thương khi gặp lại bạn tri kỉ. Ngôn ngữ bây giờ là nước mắt dưới hàng mi. Một tình cảm chừng như nén lại nhưng cứ trào ra đến thổn thức, xót xa. Cuộc gặp gỡ không tay bắt mặt mừng này đã lắng xuống ở độ sâu của cảm nghĩ. Trăng thì vẫn phóng khoáng, vô tư, độ lượng biết bao, như “bể”, như “rừng” mà con người thì phụ tình, phụ nghĩa. - Trước cái nhìn sám hối của nhà thơ, vầng trăng một lần nữa như gợi lên bao cái “còn” mà con người tưởng chừng như đã mất. Đó là kỉ niệm quá khứ tốt đẹp khi cuộc sống còn nghèo nàn, gian lao. Lúc ấy con người với thiên nhiên - vầng trăng là bạn tri kỉ, là tình nghĩa. Nhịp thơ hối hả dâng trào như tình người dào dạt. Niềm hạnh phúc của nhà thơ như đang được sống lại một giấc chiêm bao. - Bài thơ khép lại ở hình ảnh: “Trăng cứ tròn vành vạnh ..............Đủ cho ta giật mình” - Trăng hiện lên đáng giá biết bao, cao thượng vị tha biết chừng nào. Ở đây có sự đối lập giữa “tròn vành vạnh” và “kẻ vô tình”, giữa cái im lặng của ánh trăng với sự “giật mình” thức tỉnh của con người. + Trăng tròn vành vạnh, trăng im phăng phắc không giận hờn trách móc mà chỉ nhìn thôi, một cái nhìn thật sâu như soi tận đáy tim người lính đủ để giật mình nghĩ về cuộc sống hoà bình hôm nay. Họ đã quên mất đi chính mình, quên những gì đẹp đẽ, thiêng liêng nhất của quá khứ để chìm đắm trong một cuộc sống xô bồ, phồn hoa mà ít nhiều sẽ mất đi những gì tốt đẹp nhất của chính mình. + Trăng tròn vành vạnh là hiện diện cho quá khứ đẹp đẽ không thể phai mờ. Ánh trăng chính là người bạn nghĩa tình mà nghiêm khắc nhắc nhở nhà thơ và cả mỗi chúng ta: con người có thể vô tình, có thể lãng quên nhưng thiên nhiên, nghĩa tình quá khứ thì luôn tròn đầy, bất diệt. - Sự không vui, sự trách móc trong lặng im của vầng trăng là sự tự vấn lương tâm dẫn đến cái “giật mình” ở câu thơ cuối. Cái “giật mình” là cảm giác và phản xạ tâm lí có thật của một người biết suy nghĩ, chợt nhận ra sự vô tình, bạc bẽo, sự nông nổi trong cách sống của mình. Cái “giật mình” của sự ăn năn, tự trách, tự thấy phải đổi thay trong cách sống. Cái “giật mình” tự nhắc nhở bản thân không bao giờ được làm người phản bội quá khứ, phản bội thiên nhiên, sùng bái hiện tại mà coi rẻ thiên nhiên. Câu thơ thầm nhắc nhở chính mình và cũng đồng thời nhắc nhở chúng ta, những người đang sống trong hoà bình, hưởng những tiện nghi hiện đại, đừng bao giờ quên công sức đấu tranh cách mạng của biết bao người đi trước. c. Đánh giá: Bài thơ giản dị như một câu chuyện với mạch tự sự tự nhiên. Nhà thơ Nguyễn Duy đã rất thành công trong việc sử dụng hình ảnh “ánh trăng” giàu ý nghĩa biểu tượng để làm nổi bật ý nghĩa của bài thơ. III. Củng cố - Dặn dò - GV yêu cầu HS nhắc lại dàn ý chung (cách làm bài) - Giao bài tập về nhà: Viết bài văn phân tích bài thơ “Ánh trăng” của Nguyễn Duy.

File đính kèm:

  • pdfgiao_an_day_them_ngu_van_9_buoi_17_nghi_luan_ve_1_doan_tho_b.pdf