Đề tài Giúp các em học sinh lớp 3 giải tốt bài toán liên quan đến rút về đơn vị

 Mỗi môn học ở tiểu học đều góp phần vào việc hình thành và phát triển những cơ sở ban đầu rất quan trọng ở nhân cách con người. Trong các môn học ở tiểu học cùng với môn Tiếng Việt, môn Toán có vị trí rất quan trọng vì: Các kiến thức, kĩ năng của môn Toán có rất nhiều ứng dụng trong cuộc sống, chúng rất cần thiết cho người lao động, rất cần thiết để học các môn học khác và học tiếp Toán ở Trung học. Các kiến thức, kĩ năng của môn Toán ở tiểu học được hình thành chủ yếu bằng thực hành, luyện tập và thường xuyên được ôn tập, củng cố, phát triển, vận dụng trong học tập và trong đời sống.

 

doc16 trang | Chia sẻ: haohao | Ngày: 18/10/2014 | Lượt xem: 1000 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Giúp các em học sinh lớp 3 giải tốt bài toán liên quan đến rút về đơn vị, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tìm giá trị của 1 phần: ( phép chia) (Đây là bước rút về đơn vị) Tìm giá trị của 1 phần: ( phép chia) (Đây cũng là bước rút về đơn vị) 2 Tìm giá trị của 1 phần ( phép nhân) Lấy giá trị 1 phần nhân với số phần Tìm số phần. (Phép chia) Lấy giá trị các phần chia cho gía trị 1 phần. Sau đó, tôi yêu cầu học sinh học thuộc để áp dụng nhận dạng kiểu bài và giải các bài toán đó. Khi luyện tập, tôi tiến hành cho học sinh luyện 2 bài tập song song với nhau, mục đích là để các em vừa làm, vừa nhận dạng, so sánh. Sau mỗi lần luyện tập như vậy, chúng ta lại củng cố kiến thức một lần cho các em, chắc các em không còn nhầm lẫn nữa. * Lần 1: Bài toán 1: Có 5 túi gạo chứa được 40 kg gạo. Hỏi 3 túi gạo thì chứa được bao nhiêu ki - lô - gam gạo? Bài toán 2: Có 40 ki – lô - gam gạo đựng vào 5 túi. Hỏi có 24 kg gạo thì cần bao nhiêu túi như thế để đựng? * Củng cố cách giải, mối quan hệ giữa các phép tính trong 2 bài toán này. Mặt khác học sinh dễ dàng nhìn nhận ra lỗi sai của mình, nếu như nhầm phép tính ( Bài toán 2 là bài toán ngược của bài toán 1) * Lần 2: Bài toán 1: Có 4 cái áo đơm hết 24 cái cúa áo. Hỏi có 1236 cúa áo thì đơm được bao nhiêu cái áo như thế? Bài toán 2: Ba thùng như nhau đựng được 27 lít mật ong. Hỏi 7 thùng như thế đựng được bao nhiêu kg mật ong? *Đổi thứ tự bài để học sinh củng cố được cách nhận dạng 2 kiểu bài và phương pháp giải. * Tóm lại: Trên đây là phương pháp hướng dẫn các em học sinh lớp 3 giải tốt dạng toán: Bài toán liên quan đến rút về đơn vị, tôi tin rằng nếu chúng ta làm được như vậy thì các em nắm được phương pháp giải dạng toán này tốt hơn, chắc chắn hơn, tránh được những sai sót có thể xảy ra. Các em sẽ có được tinh thần phấn khởi, tự tin khi giải toán. V/ Tổng kết kinh nghiệm: Trong suốt quá trình nghiên cứu, quan sát học sinh giải toán, tôi thấy các em rất thích giải toán khi các em đã có đủ vốn kiến thức, phương pháp giải toán. Các em giải toán đúng, chính xác hơn khi các em được thầy cô nhiệt tình hướng dẫn với phương pháp dễ hiểu nhất, dễ nhớ nhất. Với phương pháp này tôi đã trang thiết bị cho các em vốn kiến thức phương pháp cơ bản để các em giải dạng toán này không nhầm lẫn, sai sót đến chất lượng học của các em được nâng lên rõ rệt. Dạy xong kiểu bài 1, so với năm học 2008-2009, năm nay các em làm bài tốt hơn nhiều, chất lượng tăng 20%. Dạy xong kiểu bài 2, chất lượng càng tăng hơn 15% so với thời điểm năm ngoái. Nhìn chung, các em được giải toán, so sánh cách giải của 2 kiểu bài này, cho nên các em làm bài chính xác cao, chất lượng khả quan. Qua khảo sát chất lượng học sinh khối 3 năm học này, tôi thu được kết quả như sau: Tổng số HS 1 -> 4 5 -> 6 7 -> 8 9 -> 10 SL % SL % SL % SL % 104 1 1 15 14 35 34 53 51 Nhìn vào bảng kết quả trên, tôi thấy đó là kết quả thực chất của các em. Kết quả đó cho chúng ta thấy được có phương pháp tốt thì học sinh làm bài tốt hơn. Chất lượng học của học sinh không tự dưng mà có được, mà đòi hỏi mỗi người giáo viên chúng ta biết phương pháp truyền đạt tới từng đối tượng học sinh. Nhiều đồng chí cho rằng dạng toán này dễ. Song, không hẳn như vậy, nếu chúng ta truyền đạt kiến thức, phương pháp hời hợt thì các em dễ dàng nhầm lẫn ở bước 2 của 2 kiểu bài đó, cũng có khi nhầm cả sang dạng toán khác. Cho nên dạy toán ở dạng toán này, chúng ta càng cẩn thận, chi tiết bao nhiêu thì chất lượng tiếp thu và làm bài càng tăng lên, các em học toán tự tin hơn. VI/ Phân tích tổng hợp những bài học kinh nghiệm: Dạy toán ở Tiểu học nói chung, ở lớp 3 nói riêng là cả một quá trình kiên trì, đầy sự sáng tạo, nhất là đối với dạng toán liên quan đến rút về đơn vị, cho nên khi hướng dẫ học sinh giải toán nói chung, giải dạng toán liên quan đến rút về đơn vị nói riêng chúng ta cần phải: 1/ Tạo niềm hứng thú, sự say mê giải toán, bởi các em có thích học toán thì các em mới có sự suy nghĩ, tìm tòi các phương pháp giải bài toán một cách thích hợp. 2/ Hướng dẫn học sinh nắm đầy đủ các kĩ năng cần thiết khi giải toán bằng phương pháp phù hợp, nhẹ nhàng, không gò bó. 3/ Kích thích tư duy sáng tạo, khả năng phân tích, tổng hợp trong khi tìm tòi, phát hiện đường lối trong giải toán. 4/ Thường xuyên thay đổi hình thức dạy học ở mỗi bài để tránh sự nhàm chán. 5/ Tập cho học sinh có kĩ năng tự phân tích bài toán, tự kiểm tra đánh giá kết quả của bài toán, tập đặt các câu hỏi gợi mở cho các bước giải trong bài toán. 6/ Phải coi việc giải toán là cả một quá trình, không nóng vội mà phải kiên trì tìm và phát hiện ra “ chỗ hổng” sau mỗi lần hướng dẫn để khắc phục, rèn luyện. 7/ Nên động viên, khuyến khích các em có đưa ra phương pháp giải gần hợp lí, tránh đưa ra tình huống phủ định ngay. 8/ Gần gũi, động viên những em học yếu môn Toán để các em có tiến bộ, giúp đỡ nhẹ nhàng khi cần thiết. VII/ Những điều còn bỏ ngỏ: Với phương pháp giúp các em học sinh lớp 3 giải tốt bài toán liên quan đến rút về đơn vị tôi vừa nêu ở trên, áp dụng cho mọi đối tượng học sinh, tuy có nhiều thành công song mặt nào đó nó vẫn còn hạn chế của nó. Đối với học sinh yếu kém, các em vẫn phải giải đi giải lại nhiều lần ( luyện nhiều) mới nhớ được các bước giải, kĩ năng phân biệt ở 2 kiểu bài chưa chắc lắm. Đối với học sinh giỏi, các em làm tốt dạng toán này, đòi hỏi phải có sự nâng cao hơn về kiến thức, không thì các em cho rằng việc giải toán quá đơn giản. Điều này tôi còn chưa nêu ở trong phương pháp dạy dạng toán này. Tôi sẽ coi đây là mục tiêu để nghiên cứu sau này. VIII/ Khả năng vận dụng vào thực tiễn: Trên đây, tôi đã trình bày phương pháp hướng dẫn học sinh giải tốt dạng toán liên quan đến rút về đơn vị. Với phương pháp này, tôi đã triển khai chuyên đề với tất cả giáo viên tổ 2- 3 , nó được áp dụng dạy với tất cả đối tượng học sinh, thực chất nó mang lại kết quả rất cao. Bởi từ phương pháp này giáo viên sẽ giúp các em nắm được các bước cần thực hiện được khi giải toán, các em biết phân biệt cách giải các kiểu bài này trong cùng một dạng toán cơ bản. Đối với phương pháp này, tất cả các đối tượng học sinh sẽ nắm được quy trình giải 2 kiểu bài một cách dễ dàng, dễ nhớ mà không nhầm lẫn, các em biết phân biệt được sự giống nhau và khác nhau khi thực hiện bài giải của 2 kiểu bài này. Đó cũng là mong muốn của mỗi chúng ta. Phần III: Kết luận I / Kết quả thành công: Ngay từ khi bước sang học kỳ II của năm học này, tôi đã tiến hành triển khai chuyên đề Toán lớp 3 để các dồng chí nắm được phương pháp giải dạng toán có liên qua đến rút về đơn vị. Cho nên khi dạy đến dạng bài toán này, phương pháp dạy theo chuyên đề đã được áp dụng với tất cả học sinh các lớp ở khối 3. Chính vì vậy, các em đã nhanh chóng nắm được cách giải kiểu bài 1 rồi đến kiểu bài 2 của dạng toán này, các em biết phân tích để thấy được sự giống nhau, khác nhau khi thự hiện bài giải, đặc biệt là các em biết nhận dạng toán này một cách thành thục, có kĩ năng, kĩ xảo tốt. Các em học sinh trung bình thì làm khá tốt. Đó là tất cả những gì chúng ta mong muốn để có được khi dạy học sinh giải toán. Tôi mong muốn giải pháp này sẽ được áp dụng sâu rộng hơn để quá trình dạy học toán, thích giải toán và thích tìm tòi, khám phá cái mới, cái cần có khi giải toán. Đạt được tất cả những điều trên đó là thành công lớn trong giảng dạy. II/ Phương hướng tiếp tục hoàn thiện: Mỗi chúng ta, khi đứng trên bục giảng, ai cũng luôn mong muốn cho mình một phương pháp dạy tốt nhất để mang lại chất lượng dạy – học cao nhất. Đặc biệt, tôi rất thích nghiên cứu về môn toán với đối tượng là học sinh giỏi hoặc khá giỏi. Cho nên,trong thời gian tới, tôi tiếp tục nghiên cứu, sưu tầm, thiết lập các kiểu bài nâng cao của dạng toán tôi vừa nghiên cứu và các dạng kiểu bài toán khác để hướng dẫn học sinh học toán có chất lượng cao. Hình thành kĩ năng , kĩ xảo khi giải toán tốt nhất cho cho học sinh. Tôi sẽ nghiên cứu, mở rộng với tất cả các khối lớp, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học ở Tiểu học nói riêng, của Ngành giáo dục nói chung. III/ ý kiến đề xuất: * Đối với giáo viên: Tích cực tham gia tích luỹ kiến thức để tập trung nghiên cứu các phương pháp đổi mới ở tất cả các môn học ở bậc Tiểu học. * Đối với tổ chuyên môn; Thường xuyên tổ chức các chuyên đề đổi mới phương pháp dạy học, thảo luận sâu sắc cách viết và làm sáng kiến kinh nghiệm. * Đối với trường: Cần phát động sâu rộng phong trào viết sáng kiến kinh nghiệm ở hàng năm. * Đối với Phòng giao dục: Hàng năm, Phòng nên tổ chức viết và chấm sáng kiến kinh nghhiệm trước khi thi giáo viên dạy giỏi, lựa cho các đồng chí có sáng kiến kinh nghiệm tốt để dự thi giáo viên dạy giỏi cấp huyện rồi xét danh hiệu chiến sĩ thi đua cho các đồng chí đạt cả yêu cầu trên. IV/ Lời kết: Trên đây, tôi vừa trình bày phương pháp giúp học sinh lớp 3 giải tốt dạng toán liên quan đến rút về đơn vị. Một phần, tôi muốn góp phần nhỏ vào phương pháp dạy học toán ở Tiểu học nói chung, phương pháp dạy toán nói riêng. Một phần, tôi muốn trình bày ý kiến của mình để các đồng nghiệp tham khảo, đóng góp ý kiến xây dựng để cho phương pháp dạy học của tôi hoàn thiện hơn. Kính mong các đồng nghiệp xem xét và nhiệt tình góp ý kiến cho tôi để tôi có nhiều thành công trong sự đổi mới phương pháp dạy học hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn! Hùng Lý, ngày 26/4/2010 Người viết Nguyễn Thị Tuyết Hạnh Mục lục STT Nội dung Trang 1. Phần I: Mở đầu 1 2. I. Lý do chọn đề tài 1 3. II. Mục đích nghiên cứu 1 4. III. Đối tượng nghiên cứu 1 5. IV. Nhiệm vụ nghiên cứu 2 6. V. Phương pháp nghiên cứu tiến hành 2 7. VI. Phạm vi nghiên cứu 2 8. VII. Dự kiến kế hoạch nghiên cứ 3 9. Phần II - Nội dung 4 10. I. Cơ sở lý luận 4 11. II. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 4 12. III. Thực trạng của dạy và học 5 13. IV. Những kinh nghiệm giải pháp chỉ đạo 6 14. V. Tổng kết kinh nghiệm 12 15. VI. Phân tích tổng hợp những bài học kinh nghiệm 13 16. VII. Những điều còn bỏ ngỏ 13 17. VIII. Khả năng vận dụng vào thực tiễn 14 18. Phần III - Kết luận 15 19. I. Kết quả thành công 15 20. II. Phương hướng tiếp tục hoàn thiện 15 21. III. ý kiến đề xuất 15 22. IV. Lời kết 15

File đính kèm:

  • docGiai toan lien quan den rut ve don vi L3.doc