Tài liệu bồi dưỡng HSG môn Lịch sử Lớp 9
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tài liệu bồi dưỡng HSG môn Lịch sử Lớp 9, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tài liệu chuyên sâu bồi dưỡng học sinh giỏi lịch sử 9
sach247.net
CÂU 4.
Làm sáng tỏ nhận định: Phong trào cách mạng Việt Nam 1930 – 1931 mang nội
dung mới so với các phong trào yêu nước trước đó.
TRẢ LỜI
- Về lãnh đạo: là phong trào đầu tiên của quần chúng nhân dân do Đảng Cộng sản Việt
Nam lãnh đạo. Phong trào là một bước tiến mới so với những phong trào yêu nước trước đó.
- Về đối tượng cách mạng, mục tiêu đấu tranh:
+ Phong trào Cần Vương cuối thế kỉ XIX đấu tranh chống Pháp và phong kiến đầu hàng
nhằm khôi phục một nhà nước phong kiến; phong trào yêu nước đầu thế kỉ XX đấu tranh
chống Pháp và phong kiến tham những, khôi phục nền độc lập dân tộc và xây dựng nước
Việt Nam theo con đường tư bản.
+ Phong trào cách mạng 1930 – 1931 là một phong trào triệt để, đánh trúng kẻ thù của dân
tộc là đế quốc và bọn phong kiến tay sai, giành độc lập dân tộc, ruộng đất dân cày, lập chính
quyền Xô viết công – nông đầu tiên ở Việt Nam..., không khoan nhượng và thỏa hiệp với kẻ
thù.
- Hình thức đấu tranh và tính quyết liệt:
+ Các phong trào yêu nước đầu XX còn ảo tưởng với Pháp, muốn dựa vào sự giúp đỡ của
người Pháp để khai dân trí hoặc dựa vào Nhật để chống Pháp. Đấu tranh của bộ phận tư sản
dân tộc bộc lộ tính thỏa hiệp khi Pháp nhượng bộ một số quyền lợi.
+ Phong trào cách mạng 1930 – 1931 có hình thức đấu tranh phong phú (bãi công, biểu tình,
bãi khóa, bãi thị, mít tinh, treo cờ búa liềm, rải truyền đơn..), sôi nổi và quyết liệt (phá đồn
điền, nhà lao, nhà ga, bao vây huyện đường, tấn công chính quyền địch ở địa phương )
- Về quy mô:
+ Phong trào Cần vương diễn ra chủ yếu từ các tỉnh Trung đến Bắc Kì. Phong trào yêu nước
dân tộc dân chủ đầu thế kỉ XX và sau Chiến tranh thế giới thứ nhất diễn ra chủ yếu ở một số
thành thị lớn.
+ Phong trào cách mạng 1930 – 1931 diễn ra trên quy mô cả nước, từ Bắc chí Nam, từ nông
thôn đến thành thị; từ các nhà máy đến các hầm mỏ và có tính thống nhất cao vì đều do
Đảng Cộng sản lãnh đạo.
- Về lực lượng tham gia đấu tranh:
+ Tham gia phong trào Cần vương chủ yếu là sĩ phu, văn thân yêu nước và nông dân.
+ Phong trào cách mạng 1930 – 1931 đã lôi cuốn đông đảo quần chúng tham gia, từ công
nhân, nông dân đến các tầng lớp nhân dân thành thị; phong trào có sự kiên kết giữa công
nhân với nông dân vô cùng chặt chẽ, qua đó đã hình thành khối liên minh công-nông.
→ Từ những vấn đề trên cho thấy phong trào cách mạng Việt Nam 1930 – 1931 mang nội
dung mới so với các phong trào yêu nước trước đó. CÂU 8.
So với thời kì XVNT (1930 -1931), thời kì 1936 – 1939 khác nhau về chủ trương chỉ
đạo chiến lược, sách lược, hình thức đấu tranh, hình thức tập hợp và lực lượng tham
gia thế nào?
TRẢ LỜI
1/Chiến lược, sách lược.
-Thời kì 1930 – 1931 chịu ảnh hưởng nặng nề của cuộc khủng hoảng kinh tế, Pháp đàn
áp khủng bố khốc liệt nên nhân dân càng hiểu rõ: có cách mạng thì sống, không có cách
mạng thì chết.
-Phong trào cách mạng lớn mạnh, Đảng Cộng sản đã kịp thời lãnh đạo phong trào với
khẩu hiệu “Đánh đổ đế quốc Pháp!”, “Người cày có ruộng”
-Nhưng đến thời kì 1936 – 1939, tình hình quốc tế và trong nước thay đổi nên Đảng đã
chỉ đạo chiến lược, sách lược khác thời kì 1930 – 1931.
-Thời kì 1936 – 1939, kẻ thù chủ yếu trước mắt là bọn Pháp phản động ở thuộc địa.
Như vậy, so với thời kì 1930 – 1931, mục tiêu trước mắt của cách mạng Đông Dương
chưa phải là “Đông Dương hoàn toàn độc lập” mà chỉ dừng ở “Đấu tranh chống chế độ
phản động thuộc địa, chống phát xít và chiến tranh, đòi tự do, dân chủ, cơm áo và hòa
bình”.
2/Hình thức đấu tranh
+ Thời kỳ 1930 -1931.
- Đấu tranh diễn ra quyết liệt, quần chúng vũ trang tự vệ, biểu tình thị uy vũ trang,
khởi nghĩa vũ trang, tiến công vào cơ quan chính quyền ở địa phương.
- Chính quyền Xô Viết Nghệ Tĩnh được thiết lập.
- Giai cấp công nhân và nông dân đã lật đổ nền thống trị của đế quốc và phong kiến,
thành lập chính quyền Xô Viết để xây dựng cuộc sống mới.
+ Thời kì 1936 -1939.
- Hình thức đấu tranh khác với thời kì 1930 – 1931.
- Những khả năng hợp pháp và nửa hợp pháp, công khai và nửa công khai được triệt để
lợi dụng để đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tổ chức, giáo dục và mở rộng phong trào đấu
tranh của quần chúng.
3/ Hình thức tập hợp lực lượng.
- 1930 – 1931: lập Hội Phản đế Đồng minh (18/11/1930), bước đầu thực hiện liên minh
công nông (chủ yếu ở Nghệ Tĩnh).
- 1936 – 1939: thành lập Mặt trận Dân chủ Đông Dương, tập hợp mọi lực lượng yêu
nước, dân chủ, tiến bộ.
4/Lực lượng tham gia.
- 1930 – 1931: chủ yếu là công nông, diễn ra ở nông thôn hoặc nhà máy.
- 1936 – 1939: không phân biệt thành phần giai cấp, tôn giáo, chính trị, lực lượng tham
gia đông đảo, diễn ra chủ yếu ở thành thị.
5/Phân tích sự khác nhau.
- Vì hoàn cảnh thế giới, trong nước mỗi thời kỳ khác nhau nên Đảng phải đề ra những
chủ trương khác nhau, thể hiện Đảng rất sáng suốt trong việc chỉ đạo chiến lược, sách lược
từng thời kì lịch sử khác nhau.
- Những chủ trương trong thời kỳ 1936 – 1939 rất kịp thời và phù hợp tình hình nên đã
tạo được một phong trào đấu tranh sôi nổi.
CÂU 16.
Tại sao nói: “Phong trào dân chủ 1936 – 1939 có ý nghĩa như cuộc tập dượt thứ
hai của Đảng và quần chúng cho Tổng khởi nghĩa tháng Tám sau này”.
TRẢ LỜI
* Phong trào dân chủ 1936 – 1939 có ý nghĩa như cuộc tập dượt thứ hai của Đảng và quần
chúng cho Tổng khởi nghĩa tháng Tám sau này:
- Cuộc vận động dân chủ 1936 – 1939 là một phong trào cách mạng do ĐCS Đông Dương
lãnh đạo, diễn ra trên quy mô rộng lớn, lôi cuốn đông đảo quần chúng tham gia, với những
hình thức tổ chức và đấu tranh phong phú, buộc chính quyền thực dân phải nhượng bộ một
số yêu sách về dân sinh, dân chủ.
- Mặc dù khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ (9/1939), thế lực phản động thuộc địa đàn
áp cách mạng. Cuộc vận động dân chủ kết thúc, nhưng vẫn có ý nghĩa lịch sử to lớn:
+ Quần chúng được tổ chức, giác ngộ và rèn luyện qua thực tiến đấu tranh, trở thành lực
lượng chính trị hùng hậu của cách mạng.
+ Uy tín và ảnh hưởng của Đảng được nâng cao trong quần chúng.
+ Đội ngũ cán bộ, đảng viên có sự phát triển về số lượng và trưởng thành.
+ Đảng thêm trưởng thành một bước về chỉ đạo chiến lược và tích lũy thêm nhiều kinh
nghiệm quý báu.
- Phong trào đã động viên, giáo dục, tổ chức và lãnh đạo quần chúng đấu tranh, đồng thời
đập tan những luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc với những hành động phá hoại của bọn
tờrốtkít và các thế lực phản động khác.
- Để lại nhiều bài học về xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất; về kết hợp mục tiêu chiến
lược với mục tiêu trước mắt, về sử dụng các hình thức đấu tranh
- Phong trào là một bước chuẩn bị lực lượng cho cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám sau này.
- Đồng chí Lê Duẩn viết: “Thành công của Cách mạng tháng Tám không chỉ là kết quả
trực tiếp của cao trào phản đế 1939 – 1945 mà còn là kết quả của 2 cuộc tổng diễn tập
trước đó (cao trào cách mạng 1930 – 1931 và phong trào dân chủ 1936 – 1939) cộng lại”. CÂU 28.
Tại sao trong giai đoạn cách mạng 1936 – 1945, Đảng ta chủ trương thành lập hai
hình thức tổ chức mặt trận dân tộc thống nhất khác nhau? Vai trò của mặt trận trong
công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc hiện nay là gì?
TRẢ LỜI
a. Tại sao
- Mặt trận dân tộc thống nhất là 1 hình thức tập hợp lực lượng và tổ chức đấu tranh, nhưng
do nhiệm vụ cách mạng khác nhau mà mỗi thời kì đảng ta lại thành lập các hình thức mặt
trận khác nhau:
- 1936: do yêu cầu của cách mạng Việt Nam và chủ trương của Quốc tế Cộng sản, Đảng
ta đã thành lập Mặt trận thống nhất nhân dân phản đế Đông Dương.
Đến 1938: Vì nhiệm vụ lãnh đạo cách mạng giai đoạn này là đòi tự do dân chủ, cơm áo,
hòa bình nên đổi tên là Mặt trận Dân chủ Đông Dương (chữ phản đế lúc này không còn phù
hợp, hạn chế lực lượng tham gia cho phong trào dân chủ => sẽ ko thể thu hút được những
người Pháp, người ngoại kiều ở Đông Dương tham gia cho cuộc đấu tranh đòi dân sinh, dân
+ Với chủ trương này 1 Mặt trận to lớn, gồm đa thành phần được Đảng thành lập: người
Pháp, Hoa kiều, địa chủ...đều có thể tham gia. Các tổ chức yêu nước cũng được thành lập:
Đoàn Thanh niên cộng sản đổi tên thành Đoàn Thanh niên dân chủ, Hội Phụ nữ Việt Nam
đổi thành Hội Phụ nữ dân chủ, Hội cứu tế đỏ đổi thành Hội cày, hội cấy, hội lập nhà...chủ)
- Với hình thức mới, tên gọi mới Đảng ta kêu gọi tất cả các Đảng phái đấu tranh đòi tự
do, dân sinh dân chủ cho nhân dân. Đảng Lập hiến, đảng Dân sinh..đều hồ hởi tham gia
phong trào lấy chữ kí...đấu tranh nghị trường. Các phong trào đấu tranh thời kì này đã thu
được nhiều kết qủa, tạo ra 1 lực lượng chính trị hùng hậu để Đảng ta tiếp tục tuyên truyền và
giáo dục quần chúng, đảng viên.
- Tháng 9/1939, khi chiến tranh sắp tới gần, thực dân Pháp tiến hành khủng bố, đàn áp
→ Mặt trận Dân chủ Đông Dương tan vỡ và phải rút vào hoạt động bí mật.
- Sang năm 1939 -1940, Đảng ta nhận thấy không thể thiếu 1 hình thức mặt trận để tập
hợp lực lượng. 11/1939: Mặt trận Thống nhất dân tộc phản để Đông Dương (thời kì dân chủ
đã hết, lực lượng phản động ngóc đầu dậy, thủ tiêu mọi quyền dân sinh dân chủ của nhân
dân ta). Để giương cao hơn nữa ngọn cờ dân tộc giải phóng 5/1941, 1 tên gọi mới của mặt
trận đã ra đời Việt Nam độc lập đồng minh. Hình thức cũng phải thay đổi đưa đến sự ra đời
của các Hội “Cứu quốc”.
b. Vai trò của mặt trận trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc hiện nay
Liên hệ vai trò Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hiện nay cần tăng cường sự đoàn kết toàn
dân chống mọi âm mưu và hành động của kẻ thù để xây dựng đất nước và bảo vệ toàn vẹn
lãnh thổ tổ quốc
CÂU 14.
Phát biểu ý kiến của Anh (chị) về nhận định: “Cách mạng tháng Tám 1945 không
phải là cuộc cách mạng bạo lực”
TRẢ LỜI
Nhận định: “CM tháng Tám 1945 không phải là cuộc CM bạo lực” là sai vì:
Trong điều kiện 1 nước thuộc địa như VN, kẻ thù luôn dùng bạo lực để thống trị,
đàn áp nhân dân ta, thì con đường để giành độc lập tự do chỉ có con đường dùng CM bạo
lực. Bạo lực là công cụ dùng để đạp tan bộ máy chính quyền của Đế quốc và tay sai thiết
lập chính quyền CM. Sự nghiệp CM là sự nghiệp CM của quần chúng nên bạo lực CM
cũng là bạo lực của quần chúng
CM tháng Tám 1945 là một cuộc CM vùng dậy của cả dân tộc VN, được tiến hành
bằng khởi nghĩa vũ trang, đập tan bộ máy chính quyền của đế quốc và tay sai thiết lập lên
chính quyền CM.
Về lực lượng: CMT8 dựa vào lực lượng của cả dân tộc (Trừ bọn tay sai) lực lượng
này ko phân biệt giai cấp tầng lớp đảng phái chính trị. Lực lượng tham gia tổng khởi nghĩa
giành chính quyền đc tổ chức thành 2 lực lượng cơ bản, có quá trình chuẩn bị chu đáo lâu dà
đó là lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang.
Về hình thức phát triển CM tháng Tám 1945 đi từ khởi nghĩa từng phần giành chính
quyền từng phần tiến lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Khởi nghĩa từng
phần là cao trào kháng Nhật cứu nước (từ 9/3/1945) làm cho trận địa CM đc mở rộng lực
lượng CM đc tăng cường, tạo ra những điều kiện chủ quan thuận lợi cho tổng khởi nghĩa.
Lực lượng chính trị là lực lượng của khối đại đoàn kết toàn dân, đc tổ chức, giác ngộ
và rèn luyện trong mặt trận Việt Minh, thông qua các tổ chức quần chúng mang tên các hội
cứu quốc: Phụ nữ cứu quốc, bô lão cứu quốc, nhi đồng cứu quốc, . Lực lượng chính trị là
lực lượng chủ yếu và giữ vai trò quyết định trực tiếp làm nên thắng lợi của CMT8.
Lực lượng vũ trang đc chuẩn bị từ sau khởi nghĩa Bắc Sơn đặc biệt là từ sau hội nghị
trung ương VIII tháng 5/1941 thì lực lượng vũ trang không ngừng phát triển lớn mạnh
22/12/1944 Đội VNTTGPQ ra đời rồi phát triển thành các trung đội cứu quốc quân. Từ tháng
5/1945 VNGPQ ra đời dưới sự hợp nhất của cứu quốc quân và VNTTGPQ. Tuy còn những
hạn chế nhất định nhưng lược lượng vũ trang đã đóng vai trò quân trọng trong tiến công quân
sự ở 1 số nơi, gây thanh thế cho CM, đồng thời lực lượng vũ trang còn là lực lượng nòng
cốt, xung kích, hỗ trợ quần chúng nổi dậy tổng khởi nghĩa khi thời cơ tới.
Trong tổng khởi nghĩa tháng 8/1945 cả dân tộc VN xuống đường với sự kết hợp giữa
lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang, giữa đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, đi
từ khởi nghĩa từng phần tiến lên tổng khởi nghĩa, có sự kết hợp hài hòa ở cả nông thôn lẫn
thành thị. Từ đó tạo nên sức mạnh áp đảo, làm tê liệt sự phản kháng của kẻ thù, đập tan bộ
máy chính quyền của phát xít Nhật và tay sai thiết lập chính quyền CM.
→ Như vậy, cuộc CM tháng Tám (1945) là một cuộc CM bạo lực
Tham khảo bản đầy đủ tại tại địa chỉ: sach247.net
Hoặc tham khảo tại đây: Khuê Lam | Facebook Zalo: 0977014390 (Cô Linh)
CÂU 6
Điều kiện lịch sử nào đã đòi hỏi cách mạng Việt Nam trong thời kì 1939 – 1945
phải đưa nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu?
TRẢ LỜI
Do những điều kiện lịch sử được đặt ra một cách cấp bách, vấn đề giải phóng dân tộc
đến thời kì 1939 – 1945 trở thành vấn đề nổi lên hàng đầu trong chủ trương chỉ đạo chiến
lược mới của Đảng (đề ra từ trong Hội nghị Trung ương tháng 11/1939 và đến Hội nghị
Trung ương lần thứ 8 tháng 5/1941 thì hoàn chỉnh).
Những điều kiện đó là :
-Chiến tranh thế giới thứ II (1939 – 1945) bùng nổ. Phát xít Đức tấn công xâm lược
nhiều nước ở châu Âu, tấn công Liên Xô tháng 6/1941.
-Bắt đầu từ cuối tháng 6/1941, nhân dân Liên Xô chống phát xít thắng lợi, đã tạo điều
kiện thuận lợi cho các dân tộc đấu tranh giải phóng dân tộc.
-Bọn phản động lên cầm quyền ở Pháp đã đầu hàng.
-Thực dân Pháp ở Việt Nam đầu hàng Nhật.
-Tất cả những sự kiện trên đã bộc lộ bản chất của thực dân Pháp: vừa phản động vừa
hèn nhát.
-Ở Việt Nam, Pháp và Nhật cấu kết nhau thống trị nhân dân Việt Nam, đặt nhân dân ta
trong tình cảnh “một cổ hai tròng”.
-Mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với đế quốc phát xít Pháp Nhật trở nên gay gắt hơn
bao giờ hét.
-Tình hình đó tạo ra những khả năng mới để tập hợp lực lượng tiến tới đánh đổ đế quốc,
giành độc lập dân tộc.
-Vì vậy Đảng đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu : trước hết phải làm sao
giải phóng cho dân tộc Việt Nam ra khỏi ách của phát xít Pháp – Nhật.
-Tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất. Chỉ đề ra khẩu hiệu giảm tô, giảm tức, tịch thu
ruộng đất của đế quốc và bọn phản cách mạng đem chia cho nông dân nghèo.
Tham khảo bản đầy đủ tại tại địa chỉ: sach247.net
Hoặc tham khảo tại đây: Khuê Lam | Facebook
File đính kèm:
tai_lieu_boi_duong_hsg_mon_lich_su_lop_9.pdf



