Giáo án dạy thêm Ngữ văn 9 - Buổi 20: Luyện đề, rèn kĩ năng làm bài thi - Năm học 2023-2024
Bạn đang xem nội dung tài liệu Giáo án dạy thêm Ngữ văn 9 - Buổi 20: Luyện đề, rèn kĩ năng làm bài thi - Năm học 2023-2024, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Ngày soạn: 15/4/2024
BUỔI 20 :
LUYỆN ĐỀ, RÈN KỸ NĂNG LÀM BÀI THI
I. Mục tiêu cần đạt :
1. Kiến thức:
- Ôn tập kiến thức tiếng việt thông qua phần đọc hiểu.
- Rèn kĩ năng làm bài văn nghị luận xã hội.
Hướng dẫn học sinh hiểu về kiểu làm văn nghị luận đoạn thơ, bài thơ. Biết cách
làm bài nghị luận về đoạn thơ, bài thơ.
2. Kỹ năng: làm đề thi.
3. Thái độ, phẩm chất: chăm chỉ , nghiêm túc ôn tập .
4. Năng lực: Cảm thụ thơ, viết bài văn nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ.
II. Tiến trình lên lớp
- Gv: phát đề cho Hs
- Hs: làm đề theo yêu càu gv
Tiết 1: PHẦN BÀI TẬP ĐỌC HIỂU VÀ NGHỊ LUẬN XÃ HỘI.
I.BÀI TẬP ĐỌC HIỂU.
Đọc đoạn trích dưới đây:
(1) Cuộc sống này vốn không chỉ có hương thơm của hoa hồng và vẻ thơ mộng của
dòng sông, nó còn có cả những phút giây bị gai hoa hồng đâm đến ứa máu hoặc
vẫy vùng giữa dòng nước chảy xiết. Bên cạnh những niềm vui là những khó khăn
và cạm bẫy luôn chực chờ chỉ cần bạn lơ là mất cảnh giác chúng sẽ xô tới. Chính
những khó khăn thử thách ấy sẽ góp phần nhào nặn bạn trở thành một phiên bản
tốt hơn.
(2) Sẽ có những lúc bạn hoang mang, chông chênh, mệt mỏi và hoàn toàn mất
phương hướng. Đó có thể là khi bạn thi trượt cuộc thi mà bạn nghĩ là quan trọng
nhất đời mình. Đó là khi người bạn thân nhất quay lưng đi sau khi đâm vào lưng
bạn một vết dao.
(3) Đế vượt qua được những khoảnh khắc đó, bạn phải tìm kiếm cho mình một
điểm tựa vững chắc luôn cho bạn lời khuyên và không bao giờ rời xa. Đến cái
bóng cũng rời xa bạn khi bạn đi vào bóng tối, nhưng điểm tựa thì không, mỗi
người hãy tìm kiếm cho mình một điểm tựa. Có một loại điểm tựa như thế, thường
được gọi là “trọng tâm cuộc đời”.
(Phi Tuyết Sống như ngày mai sẽ chết, NXB Thế giới, 2017, tr.37-39)
Câu 1. (0,5 điểm) Chỉ ra phương thức biểu đạt chính của đoạn trích.
Câu 2. (0,5 điểm) Theo tác giả, cuộc sống này có những gì ?
Câu 3. (1,0 điểm) Chỉ ra và gọi tên các phép liên kết về hình thức được sử dụng
trong đoạn (2).
Câu 4. (1,0 điểm) Theo em, vì sao tác giả cho rằng: Đến cái bóng cũng rời xa bạn
khi bạn đi vào bóng tối, nhưng điểm tựa thì không ?
1- Phương thức biểu đạt chính của đoạn trích: nghị luận 2- Theo tác giả, cuộc sống này vốn không chỉ có hương thơm của hoa hồng và vẻ
thơ mộng của dòng sông, nó còn có cả những phút giây bị gai hoa hồng đâm đến
ứa máu hoặc vẫy vùng giữa dòng nước chảy xiết.
Phép liên kết về hình thức được sử dụng trong đoạn (2):
3- Phép thế: "đó" = "những lúc bạn hoang mang, chông chênh, mệt mỏi và hoàn
toàn mất phương hướng."
4-Hs trả lời theo suy nghĩ của mình.
Hoạt động của GV Nội dung
- HS
GV đưa phiếu học I.BÀI TẬP ĐỌC HIỂU.
tập Đọc đoạn trích dưới đây:
HS đọc. (1) Cuộc sống này vốn không chỉ có hương thơm của hoa
Gv hướng dẫn hồng và vẻ thơ mộng của dòng sông, nó còn có cả những
thực hiện. phút giây bị gai hoa hồng đâm đến ứa máu hoặc vẫy vùng
. Câu 1. (0,5 điểm) giữa dòng nước chảy xiết. Bên cạnh những niềm vui là
Chỉ ra phương thức những khó khăn và cạm bẫy luôn chực chờ chỉ cần bạn lơ
biểu đạt chính của là mất cảnh giác chúng sẽ xô tới. Chính những khó khăn
đoạn trích. thử thách ấy sẽ góp phần nhào nặn bạn trở thành một phiên
Câu 2. (0,5 điểm) bản tốt hơn.
Theo tác giả, cuộc (2) Sẽ có những lúc bạn hoang mang, chông chênh, mệt
sống này có những mỏi và hoàn toàn mất phương hướng. Đó có thể là khi bạn
gì ? thi trượt cuộc thi mà bạn nghĩ là quan trọng nhất đời mình.
Câu 3. (1,0 điểm) Đó là khi người bạn thân nhất quay lưng đi sau khi đâm
Chỉ ra và gọi tên vào lưng bạn một vết dao.
các phép liên kết (3) Đế vượt qua được những khoảnh khắc đó, bạn phải tìm
về hình thức được kiếm cho mình một điểm tựa vững chắc luôn cho bạn lời
sử dụng trong đoạn khuyên và không bao giờ rời xa. Đến cái bóng cũng rời xa
(2). bạn khi bạn đi vào bóng tối, nhưng điểm tựa thì không, mỗi
Câu 4. (1,0 điểm) người hãy tìm kiếm cho mình một điểm tựa. Có một loại
Theo em, vì sao tác điểm tựa như thế, thường được gọi là “trọng tâm cuộc
giả cho rằng: Đến đời”.
cái bóng cũng rời (Phi Tuyết Sống như ngày mai sẽ chết, NXB
xa bạn khi bạn đi Thế giới, 2017, tr.37-39)
vào bóng tối, 1- Phương thức biểu đạt chính của đoạn trích: nghị luận
nhưng điểm tựa thì 2- Theo tác giả, cuộc sống này vốn không chỉ có hương
không ? thơm của hoa hồng và vẻ thơ mộng của dòng sông, nó còn
có cả những phút giây bị gai hoa hồng đâm đến ứa máu
GV. Bổ sung thêm hoặc vẫy vùng giữa dòng nước chảy xiết.
kiến thức về các Phép liên kết về hình thức được sử dụng trong đoạn (2):
phương châm hội 3- Phép thế: "đó" = "những lúc bạn hoang mang, chông
thoại. chênh, mệt mỏi và hoàn toàn mất phương hướng." 4-Hs trả lời theo suy nghĩ của mình.
II.NGHỊ LUẬN XÃ HỘI:
GV hướng dẫn các em hãy viết một đoạn văn thể hiện suy nghĩ của em về vai
ý chính. trò của tự lập trong đời sống.
HS lập dàn bài *Giải thích. Tự lập là tự làm lấy mọi việc mà không dựa
a.Yêu cầu về kĩ dẫm vào ai, tự tạo dựng, tự lo liệu cuộc sống cho mình mà
năng: không ỷ lại, phụ thuộc vào người khác.
- Biết viết đoạn *Đánh giá : tự lập có vai trò rất quan trọng
văn đúng quy cách - Chúng ta phải tự lập vì tự lập là đức tính quý báu của con
- Diễn đạt mạch người. Trong cuộc sống, không phải lúc nào cũng có cha
lạc, các câu liên mẹ ở bên để dìu dắt, giúp đỡ mỗi khi chúng ta gặp khó
kết chặt chẽ khăn trong khi đó cuộc sống lại có vô vàn khó khăn thử
- Biết sử dụng các thách. Vì vậy, cần có tính tự lập để tự mình lo liệu, định
thao tác nghị luận đoạt cuộc đời.
như phân tích, tổng - Người có tính tự lập luôn tạo được thế chủ động trong
hợp để làm sáng tỏ công việc nên dễ dàng gặt hái được thành công.
vấn đề - Người có tính tự lập sẽ tạo được sự tin tưởng của những
b. Yêu cầu về kiến người xung quanh vì vậy sẽ được mọi người yêu quý.
thức: - Tự lập là cách để khẳng định nhân cách, bản lĩnh của con
Bài viết có thể người.
trình bày theo 4. Chứng minh. Thực tế cuộc sống có nhiều tấm gương nhờ
nhiều cách khác tự lập mà thành công. Người thanh niên Nguyễn Tất Thành
nhau nhưng cần với hai bàn tay trắng hoàn toàn dựa vào chính mình bôn ba
tập trung làm rõ khắp năm châu bốn bể tìm đường cứu nước mang lại nền
các ý sau: độc lập, tự do cho đất nước.
5. Bàn luận.
-Lật ngược vấn đề: Tự lập là đức tính tốt cần rèn luyện.
Tuy nhiên trong xã hội hiện nay có nhiều bạn do quá được
nuông chiều, bao bọc nên thường có tính ỷ lại, sống phụ
thuộc, dựa dẫm vào người khác, không có tính tự lập.
Những người này sẽ trở thành gánh nặng cho gia đình, xã
hội, đánh mất đi ý nghĩa của sự sống.
– Phân biệt: Tuy nhiên, chúng ta cũng cần phân biệt giữa tự
Giải thích ý lập với cô lập. Tự lập là tự mình làm lấy mọi việc, không ỷ
- Giải thích cả câu. lại, dựa dẫm vào người khác, còn cô lập là tự tách mình
3. Bàn luận vấn đề: khỏi tập thể, đề cao chủ nghĩa cá nhân. Trong cuộc sống, tự
Cần đặt ra những lập là tốt nhưng đôi khi có những việc phải dựa vào cộng
câu hỏi và trả lời đồng mới tạo nên chiến thắng. Dân tộc Việt Nam là dân tộc
nhỏ bé nhưng nhờ tinh thần đoàn kết đã đánh thắng những
tên đế quốc, thực dân sừng sỏ nhất lúc bấy giờ.
–Bài học:
– Liên hệ. Là học sinh, chúng ta cần rèn luyện tính tự lập từ khi còn nhỏ, cố gắng học tập, trau dồi về tri thức, rèn luyện
về đạo đức, tự giác học thật thi thật, tự tạo cho mình một
cách sống có văn hóa để sau này thành người có ích cho xã
hội.
Tiết 2.3 PHẦN II: TẬP LÀM VĂN
LUYỆN TẬP LẬP DÀN BÀI, VIẾT BÀI
GV hướng dẫn HS lập dàn bài.
1. Hình ảnh những chiếc xe không kính:
- Xưa nay, xe cộ rất ít khi đi vào thơ ca, nếu có thì thường được thi vị hóa ,
lãng mạn hóa . Nhưng những chiếc xe đượ Phạm Tiến Duật đưa vào thơ lại thực
đến trần trụi:
Không có kính không phải vì xe không có kính
Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi
Nghệ thuật Nội dung
Với giọng điệu thản nhiên pha chút ngang tác giả đã làm hiện lên hình ảnh
tàng , lời thơ mang tính khẩu ngữ, hình ảnh những chiếc xe mang trên mình
độc đáo, điệp ngữ không kết hợp với nghệ đầy thương tích bởi bom đạn chiến
thuật liệt kê, động từ mạnh giật, rung tranh.
= Hai câu thơ đầu lí giải nguyên nhân những chiếc xe không có kính, đồng thời
thể hiện tâm trạng xót xa cho những chiếc xe- người bạn đồng hành thủy chung
của những người lính.
Qua đó, tác giả tạo ấn tượng cho người đọc một cách cụ thể và sâu sắc về hiện
thực chiến tranh khốc liệt, về cuộc chiến đấu gian khổ mà người lính phải trải qua.
- Hình ảnh những chiếc xe không kính một lần nữa lại được tác giả miêu tả một
cách chân thực, sinh động ở khổ thơ cuối:
-Những chiếc xe từ trong bom rơi
Không có kính rồi xe không có đèn
Không có mui xe thùng xe có xước
Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước
Chỉ cần trong xe có một trái tim.
Nghệ thuật Nội dung
Nghệ thuật liệt kê không có kính, không đã nhấn mạnh những chiếc xe không
có đèn, không có mui, thùng xe có xước chỉ không kính mà còn không đèn,
kết hợp với điệp ngữ : không có mang không mui bị biến dạng, tàn phá
ý phủ định nặng nề. Mặc dù vậy, xe vẫn băng ra
chiến trường.
=> Từ trong hiện thực khốc liệt đến trần trụi, những chiếc xe không kính bỗng trở
nên thành một hình ảnh độc đáo, nên thơ - chất thơ của lòng yêu nước, tinh thần
quả cảm mà những người lính đã đem lại cho chiếc xe từ chính trái tim nhiệt
huyết của mình- trái tim cầm lái.
Phân tích hình ảnh những người lính lái xe trong bài thơ. - Thiếu những phương tiện vật chất tối thiểu lại là hoàn cảnh để người lái xe bộc lộ
những phẩm chất cao đẹp:
a. Tư thế ung dung, hiên ngang, s n sàng ra trận.
Ung dung buồng lái ta ngồi,
Nhìn đất, nhìn trời nhìn thẳng
Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng
Thấy con đường chạy thẳng vào tim
Thấy sao trời và đột ngột cánh chim
Như sa như ùa vào buồng lái
Nghệ thuật Nội dung
Nghệ thuật đảo ngữ: đưa từ láy ung Đã nhấn mạnh tư thế bình thản, hiên
dung lên đầu câu kết hợp với đại từ ngang, tự tin tiến về phía trước của
ta người lính lái xe.
- Với nhịp thơ: 2 2 2(Nhìn đất, nhìn Đã cho thấy cái nhìn đầy tự chủ, nhìn
trời nhìn thẳng) thẳng về phía trước như s n sàng chấp
- Giọng điệu: đùa vui hóm hỉnh, điệp nhận mọi khó khăn.
ngữ nhìn kết hợp với nghệ thuật liệt
kê.
- Qua khung cửa xe, người lái xe tiếp
xúc trực tiếp với thế giới bên ngoài,
với mọi khó khăn, gian khổ.
+ Điệp ngữ nhìn thấy , nghệ thuật Đã diễn tả sự cảm nhận thế giới bên
nhân hóa gió xoa mắt đắng , từ láy ngoài một cách chân thực, sinh động của
đột ngột và nghệ thuật so sánh người lính do những chiếc xe không
kính đem lại.
+ Hình ảnh con đường chạy thẳng - Gợi đến tốc độ lao nhanh của chiếc xe,
vào tim khiến cho người cầm lái và con đường
như không còn khoảng cách. Điều đó
cho thấy sự khẩn trương của người lính
đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam.
- Còn là hình ảnh ẩn dụ về con đường
chiến đấu vì mền Nam độc lập.
+ Hình ảnh gió, sao trời, cánh chim thể hện nét lãng mạn trong tâm hồn
là những hình ảnh là hình ảnh của người lính.
thiên nhiên đẹp, gợi cảm
b. Tinh thần lạc quan, bất chấp gian khổ, coi thường hiểm nguy của người lính.
Xe không kính, người lính còn phải chịu thêm những khắc nghiệt của Trường Sơn:
Không có kính ừ thì có bụi
Bụi phun tóc trắng như người già
Chưa cần rửa phì phèo châm điếu thuốc
Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha
Không có kính ừ thì ướt áo
Mưa tuôn mưa xối như ngoài trời
Chưa cần rửa, lái trăm cây số nữa
Mưa ngừng gió lùa khô mau thôi
Nghệ thuật Nội dung
Hình ảnh mưa, gió, bụi tượng trưng cho những gian khổ mà người lính gặp phải
do những chiếc xe không kính đem lại.
Điệp cấu trúc không có ừ Đã cho thấy thái độ bất chấp khó khăn , coi thường gian
thì chưa cần khổ, hiểm nguy, tinh thần lạc quan, dũng cảm của người
- BPNT so sánh: như, từ láy lính.
phì phèo , ha ha .
Sự phối hợp thanh điệu: những = Ngay trong hoàn cảnh khắc nghiệt, người lính vẫn
thanh trắc bụi, tóc trắng, lấm, tìm được giây phút thư thái. Đó là bản lĩnh của những
ướt áo, xối đặc tả những chiến sĩ lái xe.
khó khăn, gian khổ kết hợp với
những thanh bằng, đặc biệt câu
cuối đoạn gợi những phút yên
ả, ung dung trong buồng lái.
- Ngôn ngữ: mang tính khẩu Đã làm nổi bật lên niềm vui, tiếng cười của người lính.
ngữ Tiếng cười bật lên sảng khoái, lạc quan khác với tiếng
- Giọng điệu thơ hóm hỉnh, cười buốt giá ngậm ngùi động viên nhau của người
khẩu khí ngang tàng, lời thơ lính thời kì kháng chiến chống Pháp thơ Chính Hữu.
gần với ngôn ngữ đời thường.
= Chính sự lạc quan, tinh thần dũng cảm của người lính lái xe ấy đã giúp những chiếc xe
không kính vượt qua bao mưa bom bão đạn, giúp cuộc chiến đi gần hơn đến thắng lợi.
c. Tình đồng chí, đồng đội cao đẹp của người lính lái xe ( khổ 5, 6)
Và trong cuộc chiến tranh đầy gian lao, thử thách ấy, tình cảm đồng chí, đồng đội
lại càng trở nên gắn bó và gần gũi với nhau hơn:
Những chiếc xe từ trong bom rơi
Đã về đây họp thành tiểu đội
Gặp bạn bè suốt dọc đường đi tới
Bắt tay nhau qua của kính vỡ rồi
Nghệ thuật Nội dung
Hình ảnh những chiếc xe từ là một hình ảnh tả thực về những chiếc xe vượt qua bao
trong bom rơi -hoán dụ thử thách khốc liệt của chiến trường trở về
Cách gọi tiểu đội là cách nói dí dỏm, giàu hình ảnh, vừa gợi lên những
Nhân hóa. đoàn xe mang trên mình biết bao thương tích của chiến
tranh, vừa gợi lên được cái thân thương thắm tình đồng
đội.
Hình ảnh bắt tay rất giàu Những chiếc xe không kính lại đem lại sự tiện lợi để sức gợi người lính trao cho nhau những cái bắt tay. Cái bắt tay:
+ Đã cho thấy tinh thần đoàn kết, gắn bó với nhau của
các chiến sĩ lái xe.
- Thể hiện được sự đồng cảm sâu sắc trong tâm hồn của
những người lính.
.+ Là lời động viên ngắn ngủi, thầm lặng mà họ dành
cho nhau, là lời hứa quyết tâm
+ Là sự chia sẻ vội vàng tất cả những vui buồn kiêu
hãnh trên những cung đường đã qua.
Cuộc trú quân ngắn ngủi mà thắm tình đồng đội, những bữa cơm nhanh dã chiến,
chung bát chung đũa là sợi dây vô hình giúp các chiến sĩ xích lại gần nhau hơn:
Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời
Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy
Võng mắc chông chênh đường xe chạy
Lại đi, lại đi trời xanh thêm.
Nghệ thuật Nội dung
Câu thơ chung là cách định nghĩa rất lính , tếu táo nhưng chân tình,
sâu nặng. Gắn bó với nhau trong chiến đấu, họ càng gắn
bó với nhau trong đời thường.
Từ láy chông chênh Gợi cảm giác bấp bênh, tạm bợ, cho thấy phút nghỉ ngơi
vội vàng của người lính.
Điệp ngữ lại đi kết hợp với tạo âm điệu nhịp nhàng cho câu thơ, khẳng định đoàn xe
nhịp thơ 2 2 3 không ngừng tiến về phá trước. Đó là nhịp sống, chiến
đấu và hành quân của tiểu đội xe không kính mà không
một sức mạnh tàn bạo nào ngăn cản được.
Nghệ thuật ẩn dụ trời xanh Màu xanh của niềm tin, hi vọng vào ngày mai, gợi sự
thêm lạc quan của người lính.
d. Tình yêu tổ quốc thiết tha và ý chí giải phóng miền Nam
Không có kính rồi xe không có đèn
Không có mui xe thùng xe có xước
Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước
Chỉ cần trong xe có một trái tim.
Một lần nữa, sự tàn khốc của chiến tranh lại được Phạm Tiến Duật nhắc đến thông
qua hình ảnh những chiếc xe chân thực, sinh động:
Nghệ thuật Nội dung
Thủ pháp liệt kê không kính, Gợi lên hình ảnh những chiếc xe bị tàn phá, méo mó,
không đèn biến dạng, qua đó phản ánh hiện thực chiến tranh khốc
liệt
Nghệ thuật điệp ngữ không Đã nhấn mạnh dù chiếc xe không nguyên vẹn, nhưng
có kết hợp với thủ pháp đối chỉ cần có một trái tim , những chiếc xe ấy vẫn băng
lập ra chiến trường giải phóng miền Nam.
Hình ảnh hoán dụ trái tim Thể hiện lòng yêu nước thiết tha, căm thù giặc Mĩ sôi sục, ý chí kiên cường giải phóng miền Nam.
- Trái tim yêu thương, trái tim cầm lái đã giúp người lính chiến thắng bom đạn của kẻ
thù. Trái tim ấy đã trở thành nhãn tự của bài thơ và để lại cảm xúc sâu lắng trong lòng
bạn đọc.
* BÀI VĂN MẪU THAM KHẢO: Cảm nhận về hình ảnh người lính lái xe
trong bài thơ.
Những năm tháng chống Mỹ hào hùng của dân tộc đã để lại biết bao hồi ức
và những dấu ấn khó phai mờ. Hình ảnh những những cô gái thanh niên xung
phong, anh bộ đội cụ Hồ là một trong những hình ảnh đẹp nhất, lãng mạn và anh
hùng nhất trong kháng chiến. Bài thơ về tiểu đội xe không kính chính là một
trong những minh chứng tiêu biểu cho nét tinh nghịch cũng như tinh thần bất
khuất, hiên ngang hào hùng của người chiến sĩ.
Trước hết, người lính lái xe được miêu tả với tư thế ung dung, hiên ngang, s n
sàng ra trận:
Ung dung buồng lái ta ngồi
Nhìn đất, nhìn trười, nhìn thẳng
Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng
Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim
Thấy sao trời và đột ngột cánh chim
Như sa như ùa vào buồng lái .
Xe không có kính là ngồi trong buồng lái chẳng khác gì ngồi ngoài trời , phải
chịu thêm nhiều nguy cơ cả về bom đạn và thiên nhiên khắc nghiệt. Vậy mà người
lính vẫn bình thản, ung dung, tự tin, chủ động :
Ung dung buồng lái ta ngồi
Nhìn đất, nhìn trười, nhìn thẳng .
Câu thơ tự nhiên như một câu văn xuôi khẩu ngữ nhưng cách ngắt nhịp 2 2 2 gọi
sự dứt khoát rắn rỏi. Từ láy ung ung đảo trật tự cú pháp đã nhấn mạnh tư thể
bình thản, đường hoàng, hiên ngang đầy bản lĩnh của người lính lái xe. Điệp ngữ
nhìn nhấn mạnh sự tập trung cao độ của người lái, sự ngẩng cao đầu trước hiểm
nguy. Nhưng quan trọng hơn đặt ánh nhìn của người lính lái xe trong mối quan hệ
với trời , đất , tác giả tạo nên bức chân dung mang tầm vóc lớn lao, kì vĩ.
Qua khung cửa xe không còn kính chắn gió, người lái xe tiếp xúc trực tiếp với thế
giới bên ngoài, với mọi khó khăn, gian khổ:
Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng
Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim
Thấy sao trời và đột ngột cánh chim
Như sa như ùa vào buồng lái.
Điệp ngữ "nhìn thấy", tính từ "đột ngột" (cảm giác bất ngờ), hình ảnh sao trời,cánh
chim được so sánh như sa như ùa vào buồng lái và nghệ thuật nhân hóa gió vào
xoa mắt đắng đã diễn tả cảm nhận thế giới bên ngoài chân thực, sinh động ùa vào
buồng lái với tốc độ chóng mặt tạo những cảm giác đột ngột cho người lái. Người
lính phải lái xe với một tốc độ rất nhanh trên con đường đầy bom đạn, phải vượt qua núi cao, đèo sâu, vực thẳm và phải lái suốt đêm để kịp ra mặt trận phục vụ
chiến đấu. Hình ảnh: con đường chạy thẳng vào tim" gợi đến tốc độ lao nhanh
của chiếc xe khiến cho người cầm lái và con đường dường như không còn khoảng
cách. Điều đó cho thấy sự khẩn trương của người lính đối với sự nghiệp giải phóng
miền Nam. Đồng thời đây còn là ẩn dụ về con đường Trường Sơn huyền thoại,
con đường chiến đấu vì miền Nam độc lập,con đường của trái tim , hành trình của
chiếc xe không kính là hành trình của tình yêu đất nước.
Người lính lái xe trong bài thơ còn được miêu tả với tinh thần lạc quan, dũng
cảm, bất chấp khó khăn, nguy hiểm:
Không có kính, ừ thì có bụi,
Bụi phun tóc trắng như người già
Không có kính, ừ thì ướt áo
Mưa tuôn mưa xối như ngoài trời.
Không có kính, ừ thì ướt áo
Mưa tuôn, mưa xối như ngoài trời
Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa
Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi
Thiên nhiên Trường Sơn là sự khốc liệt của bụi, gió, mưa. Bụi làm tóc các anh
trắng như người già , mưa thì tuôn, xối , gió làm cay mắt đắng, gió lùa quần áo
ướt mau khô. Nhưng với thái độ ngang tàng, bất chấp, bất cần, phớt lờ các anh
buông một tiếng ừ thì .
Hiện thực khốc liệt của cuộc chiến bỗng biến thành những liên tưởng ngộ nghĩnh,
tinh nghịch đậm chất lính. Bụi khiến những chàng lính trẻ tóc trắng như người
già và họ nhìn nhau mặt lấm cười ha ha . Tinh thần coi thường hiểm nguy của
người lính còn được thể hiện ở một chất giọng tự nhiên, hóm hỉnh nhưng có gì đó
lãng tử, ngang tàng: biết là không có kính sẽ bất tiện nhưng vẫn bất cần: không
có kính, ừ thì có bụi , không có kính, ừ thì ướt áo , bụi bám đầy tóc, mặt lấm lem
cũng chưa cần rửa phì phèo châm điếu thuốc , phải chịu cảnh mưa tuôn , mưa
xối như ngoài trời cũng chưa cần thay, lái trăm cây số nữa
Đặc biệt tác giả chớp được chi tiết đắt giá Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha". Giữa
núi rừng Trường Sơn mưa bom bão lửa, tiếng cười át tiếng bom, tiếng cười xóa tan
mọi khó khăn, gian khổ, tiếng cười sảng khoái, tiếng cười của niềm tin chiến
thắng. Tiếng cười ha ha khác với tiếng cười buốt giá ngậm ngùi, động viên
nhau của người lính thời kì kháng chiến chống Pháp.
Tình đồng chí, đồng đội là một biểu hiện vô cùng cao đẹp của người lính lái xe:
Những chiếc xe từ trong bom rơi
Đã về đây họp thành tiểu đội
Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới
Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi.
Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy
Võng mắc chông chênh đường xe chạy
Lại đi, lại đi trời xanh thêm .
Tình đồng đội của những chiến sĩ lái xe được hình thành từ trong thử thách mưa
bon đạn nổ khi cùng chung nhiệm vụ, cùng chung lý tưởng:
Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới
Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi
Họ chào nhau bằng cử chỉ thật đặc biệt khi gặp nhau:"bắt tay qua cửa kính vỡ rồi".
Xe không kính trở thành cái "tiện" để các anh xích lại gần nhau, để bày tỏ tình cảm
cảm và mối giao hòa tuyệt diệu, truyền cho nhau sức mạnh, tình đồng chí, đồng
đội, lòng yêu nước và quyết tâm đánh giặc.
Cuộc trú quân ngắn ngủi mà thắm tình đồng đội, những bữa cơm nhanh dã chiến,
chung bát chung đũa là sợi dây vô hình giúp các chiến sĩ xích lại gần nhau hơn:
Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời
Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy
Võng mắc chông chênh đường xe chạy
Lại đi, lại đi trời xanh thêm.
Câu thơ chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy là cách định nghĩa rất lính , tếu
táo nhưng chân tình, sâu nặng. Gắn bó với nhau trong chiến đấu, họ càng gắn bó
với nhau trong đời thường .
Trên đường ra trận, tâm hồn người lính vui tươi, lạc quan: " Võng mắc chông
chênh đường xe chạy Lại đi, lại đi trời xanh thêm ". Từ láy chông chênh gợi
cảm giác bấp bênh, tạm bợ, cho thấy phút nghỉ ngơi vội vàng của người lính. Điệp
ngữ lại đi khẳng định đoàn xe không ngừng tiến lên phía trước
Tình yêu tổ quốc thiết tha và ý chí chiến đấu giải phóng miền Nam thống nhất
đất nước:
Không có kính rồi xe không có đèn
Không có mui xe, thùng xe có xước.
Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước
Chỉ cần trong xe có một trái tim .
Tác giả phát hiện tất cả mọi khía cạnh của cái"không"; không có kính, không có
đèn, không có mui... thêm một lần nữa nhấn mạnh những thử thách khắc nghiệt đối
với người lính lái xe. Điệp ngữ"không có"nhắc lại ba lần như nhân lên những gian
khổ khốc liệt. Từ đó khẳng định một cái "có" : "Chỉ cần trong xe có một trái tim".
Những chiếc xe mình đầy thương tích vẫn bất chấp tất cả,thẳng tới chiến trường
không sức mạnh nào của kẻ thù khiến nó phải dừng chân:
Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước:
Chỉ cần trong xe có một trái tim.
Cách nói hoán dụ "trái tim" thể hiện lòng yêu nước thiết tha, căm thù giặc Mỹ
sôi sục, ý chí chiến đấu kiên cường vì miền Nam sẽ làm nên sức mạnh chiến thắng.
Con đường Trường Sơn không bao giờ bị đứt mạch, những chiếc xe vận tải chẳng
bao giờ ngừng lăn bánh khi có bao trái tim cùng chung nhịp đập hướng về miền Nam thân yêu. Tình yêu tổ quốc thiết tha và ý chí chiến đấu giải phóng miền Nam
thống nhất đất nước.
*HƯỚNG DẪN VỀ NHÀ: Viết các dàn bài số 1 thành bài văn hoàn chỉnh.
*Đọc thêm: Sách ôn thi vào lớp 10 môn ngữ văn trang 29.30
File đính kèm:
giao_an_day_them_ngu_van_9_buoi_20_luyen_de_ren_ki_nang_lam.pdf



