Giáo án dạy thêm Ngữ văn 8 - Buổi 1-3

pdf38 trang | Chia sẻ: KA KA | Ngày: 15/01/2026 | Lượt xem: 6 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Giáo án dạy thêm Ngữ văn 8 - Buổi 1-3, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Buổi 1 (HKII) Tiết 1,2,3 LUYỆN ĐỀ ĐỌC HIỂU VĂN BẢN TRUYỆN NGẮN HIỆN ĐẠI A. MỤC TIÊU I. Năng lực 1. Năng lực chung: Tự học; hợp tác giải quyết vấn đề, trình bày trước đám đông. 2. Năng lực riêng biệt: - Năng lực nhận biết các đặc điểm của văn bản truyện ngắn hiện đại. (thể loại, đề tài, nội dung, nghệ thuật, ngôn ngữ;....); - Năng lực đọc hiểu các văn bản truyện ngắn hiện đại ngoài SGK. - Năng lực cảm thụ văn học. II. Phẩm chất - Bồi đắp lòng yêu nước, tinh thần trách nhiệm trong mỗi con người. - Hoàn thiện nhân cách, hướng đến lối sống tích cực. - Có ý thức ôn tập một cách nghiêm túc. B. THIẾT BỊ DẠY HỌC VÀ HỌC LIỆU 1. Chuẩn bị của giáo viên: - Kế hoạch bài dạy; - Phiếu bài tập. 2. Chuẩn bị của học sinh: SGK, vở ghi, đồ dùng học tập. C. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC 1. Kiểm tra kiến thức cũ: Xen kẽ trong giờ. 2. Tiến hành ôn tập. I: CỦNG CỐ TRI THỨC VỀ THỂ LOẠI TRUYỆN NGẮN HIỆN ĐẠI HOẠT ĐỘNG CỦA GV VÀ HS SẢN PHẨM DỰ KIẾN  Mục tiêu 1: Củng cố tri thức nền I. Tri thức nền cần ghi nhớ: về văn bản truyện ngắn hiện đại. 1- Chủ đề bài học: Chân dung cuộc sống. - Nhận biết được một số chi tiết tiêu 2- Thể loại chính của các văn bản: 2 tp biểu, đề tài, câu chuyện, nhân vật trong truyện ngắn + 1 tp thơ kết nối chủ đề. tính chỉnh thể của tác phẩm văn học. 3- Các văn bản được học: - Nhận biết và phân tích được cốt + Mắt sói ( Đa-ni-en Pen-nắc) truyện. + Lặng lẽ Sa Pa (Nguyễn Thành Long). - Biết cách đọc hiểu văn bản truyện + Bếp lửa ( Bằng Việt) ngắn hiện đại. -> Thể loại VB đọc chính: 1  Tổ chức thực hiện: Bước 1: GV chuyển giao nhiệm vụ học tập - GV phát vấn câu hỏi, yc hs trả lời: 1. Khái niệm truyện ngắn: + Chủ đề của bài học và thể loại chính của các văn bản đọc hiểu? Truyện ngắn là hình thức tự sự cỡ nhỏ, + Kể tên các văn bản được học trong chủ thường được viết bằng văn xuôi. đề? + Dựa vào các tri thức đã học, em hãy cho 2. Đặc trưng về nội dung và hình thức biết để tìm hiểu một văn truyện ngắn hiện của truyện ngắn đại chúng ta cần quan tâm những yếu tố 2.1. Cốt truyện nào? - GV chuyển giao nhiệm vụ: hoàn thành – Cốt truyện: là hệ thống sự kiện (biến bảng kiếm theo mẫu. cố) xảy ra trong đời sống của nhân vật. CÁC YẾU TỐ ĐẶC ĐIỂM CHÍNH -Truyện ngắn thường chỉ tập trung vào một vài biến cố, mặt nào đó của đời 1.Cốt truyện sống, các sự kiện tập trung trong một đơn tuyến không gian, thời gian nhất định, nói như nhà văn Nguyễn Kiên: Truyện ngắn 2. Cốt truyện đa thường chỉ phản ánh một khoảnh khắc, tuyến một mẩu nhỏ nào đó của cuộc sống. – Cốt truyện đóng vai trò rất quan trọng trong truyện ngắn: Một truyện ngắn hay HS tiếp nhận nhiệm vụ phải có một cốt truyện kì lạ, hay nói cách Bước 2: HS trao đổi thảo luận, thực khác nghệ thuật truyện ngắn đồng nghĩa hiện nhiệm vụ với nghệ thuật sáng tạo cốt truyện(Gớt). - HS thảo luận và trả lời từng câu hỏi  Cốt truyện đơn tuyến Bước 3: Báo cáo kết quả hoạt động và - Chỉ có một mạch sự kiện thảo luận - Sự kiện đơn giản. - HS trình bày sản phẩm thảo luận  Cốt truyện đa tuyến - GV gọi HS nhận xét, bổ sung câu trả lời của bạn. - Tồn tại ít nhất hai mạch sự kiện. Bước 4: Đánh giá kết quả thực hiện - Hệ thống sự kiện phức tạp, chồng chéo nhiệm vụ gắn với số phận các nhân vật chính. - GV nhận xét, bổ sung, chốt lại kiến thức. 2.2 Tình huống truyện Mỗi tác phẩm truyện ngắn sẽ được xây dựng dựa trên một tình huống truyện nhất định. Tình huống truyện là sự việc 2  Mục tiêu 2: Củng cố phương pháp chính hoặc hoàn cảnh bộc lộ được đặc đọc hiểu một tác phẩm truyện ngắn hiện điểm của nhân vật hoặc ý đồ của tác giả. đại. - Vận dụng được kĩ năng đọc hiểu để -Tình huống truyện là hoàn cảnh chứa phát hiện ra chi tiết tiêu biểu và cảm nhận xung đột được nhà văn tạo lập để triển được cái hay của tác phẩm văn học. khai cốt truyện. Tình huống truyện xét đến cùng là những sự kiện đặc biệt của  Tổ chức thực hiện: đời sống trong đó chứa đựng những diễn - GV nhận xét, bổ sung, chốt lại kiến thức. biến, mâu thuẫn được nhà văn triệt để - Đánh giá, động viên tinh thần hoạt động khai thác làm bật lên ý đồ nghệ thuật của của HS. mình. Trong truyện ngắn tình huống là “cái tình thế xảy ra truyện” để diễn tả “một khoảnh khắc mà trong đó sự sống hiện ra rất đậm đặc”, là cái khoảnh khắc chứa đựng cả một đời người” (Nguyễn Minh Châu). - Các loại tình huống: tình huống hành động (hướng tới hành động có tính chất bước ngoặt của nhân vật); tình huống tâm lí (chủ yếu tác động đến tâm tư, tình cảm nhân vật hơn là đẩy họ vào tình thế phải lựa chọn hay quyết định những hành động thích ứng) ; tình huống nhận thức (mang đến nhận thức cho nhân vật, chủ yếu cắt nghĩa giây phút giác ngộ chân lí của nhân vật) – Tình huống truyện là cơ sở để cốt truyện phát triển một cách tự nhiên, hợp lí; góp phần thể hiện tư tưởng, tính cách của nhân vật, thể hiện chủ đề của tác phẩm. (gv nói thêm để hs được khắc sâu, mở rộng kiến thức). BÀI TẬP HÌNH THÀNH KĨ NĂNG 2.3. Kết cấu ĐỌC HIỂU CHI TIẾT MỘT TÁC – Kết cấu là cách tổ chức tác phẩm: thể PHẨM TRUYỆN NGẮN. hiện ở phần mở đầu, kết thúc; sự lựa BÀI 1 chọn, sắp xếp các chi tiết đời sống, sắp Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi: xếp các chương đoạn Quê hương thứ nhất của chị ở đất Hưng 2.4. Nhân vật Yên, quê hương thứ hai của chị ở nông 3 trường Hồng Cúm, hạnh phúc mà chị đã - Nhân vật là một yếu tố rất quan trọng mất đi từ bảy, tám năm trước nay ai ngờ trong truyện ngắn bởi không có câu chị lại tìm thấy ở một nơi mà chiến tranh chuyện nào được xây dựng mà không có đã xảy ác liệt nhất. Ở đây, trong những nhân vật. buổi lễ cưới, người ta tặng nhau một quả mìn nhảy đã tháo kíp làm giá bút, một quả -Truyện ngắn hiện đại thường chú ý diễn đạn cối đã tiện đầu, quét lượt sơn trắng biến nội tâm, tính cách đậm nét; tâm lí làm bình hoa, một ống thuốc mồi của quả phù hợp với cá tính, lứa tuổi, giới bom tấn để đựng giấy giá thú, giấy khai sinh cho các cháu sau này và những cái tính Truyện ngắn thường miêu tả tâm võng nhỏ của trẻ con tết bằng ruột dây dù lí nhân vật qua bút pháp ngoại hiện rất óng. Sự sống nảy sinh từ cái chết, hạnh (miêu tả qua hành vi, biểu hiện bên phúc hiện hình từ trong những hi sinh ngoài, qua đối thoại); bút pháp trực tiếp gian khổ, ở đời này không có con đường (diễn tả, phân tích tâm lí nhân vật bằng cùng, chỉ có những ranh giới, điều cốt yếu trần thuật theo điểm nhìn của nhân vật, là phải có sức mạnh để bước qua ranh sử dụng thủ pháp độc thoại nội tâm ) giới ấy. ( Nguyễn Khải, Mùa lạc, Dẫn theo Truyện – Qua nhân vật nhà văn thường thể hiện ngắn Nguyễn Khải, NXB Văn học 2013) những tư tưởng, tình cảm, quan niệm về Câu 1. Chỉ ra các phương thức biểu đạt cuộc đời. được sử dụng kết hợp trong đoạn văn bản  Các phương diện chính để phân tích trên. nhân vật: Câu 2. Nhà văn đã kể gì về nhân vật chị - Xuất thân/Lai lịch. trong đoạn trích ? Câu 3. Em hiểu gì về cuộc sống và con - Ngoại hình. người thời đó qua câu văn: “Ở đây, trong - Ngôn ngữ, cử chỉ, hành động. những buổi lễ cưới, người ta tặng nhau - Tính cách, phẩm chất. một quả mìn nhảy đã tháo kíp làm giá - Nghệ thuật xây dựng nhân vật. bút, một quả đạn cối đã tiện đầu, quét => Vai trò của nhân vật trong việc thể lượt sơn trắng làm bình hoa, một ống hiện chủ đề của tác phẩm. thuốc mồi của quả bom tấn để đựng giấy giá thú, giấy khai sinh cho các 3. Chi tiết cháu sau này và những cái võng nhỏ – Chi tiết là những tiểu tiết của tác phẩm của trẻ con tết bằng ruột dây dù rất có thể là về phong cảnh, môi trường, óng” chân dung, cử chỉ, phản ứng nội tâm, Câu 4. Ở đời này không có con đường hành vi, lời nói cùng, chỉ có những ranh giới, điều cốt – Chi tiết nghệ thuật đóng vai trò quan yếu là phải có sức mạnh để bước qua trọng trong truyện ngắn yếu tố có ý ranh giới ấy. nghĩa quan trọng bậc nhất của truyện Em hiểu như thế nào về câu nói trên của nhà văn Nguyễn Khải? ngắn là chi tiết có dung lượng lớn (Lí Gợi ý đáp án: luận văn học). Không chỉ mang giá trị tạo hình, chi tiết còn mang sức khái quát 4 Câu 1: lớn tô đậm tính cách nhân vật, thể hiện Phương thức biểu đạt được sử dụng kết điểm nhìn, nghệ thuật kể chuyện của tác hợp là: tự sự, miêu tả, biểu cảm. giả tạo ra những tầng nghĩa sâu xa cho Câu 2: tác phẩm. Chi tiết cô đúc là bởi đây là + Chị có 2 quê hương: Hưng Yên và Hồng những yếu tố nhỏ trong tác phẩm nhưng Cúm. lại mang sức chứa lớn về tư tưởng và + Chị từng có quá khứ bất hạnh, khổ đau cảm xúc. Những chi tiết đặc sắc, độc đáo và đã tìm được hạnh phúc trong hiện tại. thường làm nên những truyện ngắn có Câu 3: + Cuộc sống thời hậu chiến: gian khổ, giá trị, hấp dẫn. Chi tiết nhỏ làm nên nhà thiếu thốn. văn lớn. + Con người vẫn biết vươn lên, vượt qua – Để có được những chi tiết nghệ thuật những khó khăn gian khổ để tìm được hay nhà văn phải có sự tìm tòi, sáng tạo, niềm vui và hạnh phúc trong cuộc sống. phải có vốn sống thực tế phong phú. Câu 4: có thể thể hiện ý hiểu cá nhân của 4. Điểm nhìn và giọng điệu trần thuật: HS bằng gợi ý sau – Câu nói khảng định: trong cuộc sống  Điểm nhìn con người cần có ý chí, nghị lực để vượt – Điểm nhìn văn bản là phương thức qua gian khổ; hạnh phúc sẽ đến nếu con phát ngôn, trình bày, miêu tả phù hợp với người biết vươn lên. cách nhìn, cách cảm thụ thế giới của tác – Thái độ sống sẽ giúp mỗi người vượt giả, chỉ vị trí để quan sát, cảm nhận, đánh qua hoàn cảnh của mình, phê phán lối giá. sống bi quan, tuyệt vọng, không biết vươn lên. – Các loại điểm nhìn: điểm nhìn của người trần thuật (điểm nhìn bên ngoài) Bài tập 2 và của nhân vật (theo cá tính, địa vị tâm Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi lí nhân vật); điểm nhìn không gian- thời Trong một lúc Tràng hình như quên hết gian (là vị trí của chủ thể trong không những cảnh sống ê chề, tăm tối hàng ngày, gian và thời gian, thể hiện ở phương quên cả cái đói khát ghê gớm đang đe dọa, hướng nhìn, khoảng cách nhìn, đặc điểm quên cả những tháng ngày trước mặt. Trong lòng hắn bây giờ chỉ còn có tình của khách thể được nhìn) nghĩa giữa hắn với người đàn bà đi bên.  Giọng kể (hay chính là giọng Một cái gì mới mẻ, lạ lắm chưa từng thấy điệu): ở người đàn ông nghèo khổ ấy, nó ôm ấp, mơn man khắp da thịt Tràng, tựa như có Là thái độ, tình cảm, lập trường tư bàn tay vuốt nhẹ trên sống lưng. tưởng, đạo đức của nhà văn với hiện – Sắp đến chưa? tượng được miêu tả thể hiện trong lời Người đàn bà chợt hỏi. văn quy định cách xưng hô, gọi tên, dùng – Sắp. từ, sắc điệu tình cảm, cách cảm thụ xa, – Nhà có ai không? gần, thân sơ, thành kính hay suồng sã, – Có một mình tôi mấy u. ngợi ca hay châm biếm. Giọng điệu Thị tủm tỉm cười: trong tác phẩm có giá trị đa dạng, nhiều 5 – Đã một mình lại còn mấy u. Bé lắm đấy! sắc thái dựa trên một giọng điệu cơ bản Hắn bật cười chủ đạo.Giọng điệu trong tác phẩm là – À nhỉ! giọng riêng của tác giả nhưng mang nội Câu chuyện xem chừng đã thân thân. Hắn dung khái quát nghệ thuật, phù hợp với đi sát gần bên thị hơn, ngẫm nghĩ một lát, đối tượng thể hiện. chợt hắn giơ cái chai con vẫn cầm lăm lăm một bên tay lên khoe: (nv) – Dầu tối thắp đây này. 5. Cách đọc hiểu một tác phẩm truyện – Sang nhỉ. ngắn. – Khá thôi. Hai hào đấy, đắt quá, cơ mà thôi chả cần. Chú ý hoàn cảnh ra đời của tác phẩm. – Hoang nó vừa vừa chứ. Bởi việc tìm hiểu bối cảnh xã hội, hoàn Hắn chậc lưỡi: cảnh sáng tác là cơ sở để cảm nhận – Vợ mới vợ miếc cũng phải cho nó sảng các tầng lớp nội dung và ý nghĩa của sủa một tí chứ truyện. (Kim Lân, Vợ nhặt ) Mỗi tác phẩm truyện ra đời trong một Câu 1. Nêu nội dung chính của đoạn trích. Câu 2. Tâm trạng của nhân vật Tràng giai đoạn văn học đều gắn liền với bối được diễn tả trong đoạn trích như thế nào? cảnh xã hội mà nó ra đời. Hoàn cảnh xã Câu 3. Từ tâm trạng của nhân vật Tràng, hội ấy chi phối giá trị của các tác phẩm, anh/ chị hiểu về phẩm chất của người là cơ sở để đánh giá, lí giải đặc điểm của nông dân trong nạn đói năm 1945? tác phẩm Câu 4. Nhận xét về nghệ thuật truyện – Tình huống truyện: để phân tích tình ngắn của Kim Lân qua đoạn trích trên. huống truyện cần tóm tắt tình huống, phân tích diễn biến của tình huống hoặc tính chất của tình huống, rút ra ý nghĩa của tình huống. - Khi tìm hiểu nhân vật cần chú ý: + Đặc điểm của nhân vật thể hiện chủ đề của tác phẩm: chú ý số phận, phẩm chất tính cách nhân vật. (Nhân vật chính là ai? Nhân vật đó được tác giả khắc họa trong hoàn cảnh nào? Ngoại hình, lời nói, hành động...) + Nghệ thuật xây dựng nhân vật: việc xây dựng nhân vật thể hiện tài năng và phong cách nghệ thuật của nhà văn. - Ngôn ngữ kể chuyện có gì đặc sắc. 6 - Phân tích được chủ đề, tư tưởng, thông điệp mà tác giả muốn gửi đến người đọc thông qua văn bản. - Từ văn bản truyện ngắn liên hệ với bản thân và cuộc sống xung quanh để thấy được ý nghĩa của nó đối với cuộc sống, con người. II: LUYỆN TẬP NHẬN DIỆN ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI TRUYỆN NGẮN HIỆN ĐẠI QUA CÁC VĂN BẢN. HOẠT ĐỘNG CỦA GV VÀ HS SẢN PHẨM DỰ KIẾN  Tổ chức thực hiện: II. LUYỆN TẬP.  NV1: Củng cố pp kĩ năng cho HS khi HS cần biết phải bám sát vào đặc trưng của tiếp cận văn bản mới. thể loại: - Đọc truyện và kể tóm tắt phần được -Thể loại? đọc. - Ngôi kể? - HS đọc và kể tóm tắt truyện. - Phương thực biểu đạt chính? - GV em hãy nhắc lại cách đọc hiểu một tp truyện ngắn ta cần chú ý bám sát - Nhân vật chính? vào những điều gì? - Tình huống truyện (hoàn cảnh)  Nhiệm vụ 2: Rèn kĩ năng đọc hiểu - Tìm hiểu cốt truyện có gì đặc biệt? tác phẩm truyện ngắn cho HS qua pp tiếp cận đã được học. - Ngôn ngữ truyện: lời kể, ngôn ngữ - nhân vật NGỮ LIỆU 1: TRUYỆN NGẮN LÃO HẠC – NAM CAO ĐỌC TRUYỆN LÃO HẠC Lão Hạc thổi cái mồi rơm, châm đóm. Tôi đã thông điếu và bỏ thuốc rồi. Tôi mời lão hút trước. Nhưng lão không nghe – Ông giáo hút trước đi. Lão đưa đóm cho tôi – Tôi xin cụ Và tôi cầm lấy đóm, vo viên một điếu. Tôi rít một hơi xong, thông điếu rồi mới đặt vào lòng lão. Lão bỏ thuốc, nhưng chưa hút vội. Lão cầm lấy đóm, gạt tàn, và bảo: – Có lẽ tôi bán con chó đấy, ông giáo ạ! Lão đặt xe điếu, hút. Tôi vừa thở khói, vừa gà gà đôi mắt của người say, nhìn lão, nhìn để làm ra vẻ chú ý đến câu nói của lão đó thôi. Thật ra thì trong lòng tôi rất dửng dưng. Tôi nghe câu ấy đã nhàm rồi. Tôi lại biết rằng: lão nói là nói để có đấy thôi; 7 chẳng bao giờ lão bán đâu. Vả lại, có bán thật nữa thì đã sao? Làm quái gì một con chó mà lão có vẻ băn khoăn quá thế Lão hút xong, đặt xe điếu cuống, quay ra ngoài, thở khói. Sau một điếu thuốc lào, óc người ta tê dại đi trong một nỗi đê mê nhẹ nhõm. Lão Hạc ngồi lặng lẽ, hưởng chút khoái lạc con con ấy. Tôi cũng ngồi lặng lẽ. Tôi nghĩ đến mấy quyển sách quý của tôi. Hồi bị ốm nặng ở Sài Gòn tôi bán gần hết cả áo quần, nhưng vẫn không chịu bán cho ai một quyển. Ốm dậy, tôi về quê, hành lý chỉ vẻn vẹn có một cái va-li đựng toàn những sách. Ôi những quyển sách rất nâng niu! Tôi đã nguyện giữ chúng suốt đời, để lưu lại cái kỷ niệm một thời chăm chỉ, hăng hái và tin tưởng đầy những say mê đẹp và cao vọng: mỗi lần mở một quyển ra, chưa kịp đọc dòng nào, tôi đã thấy bừng lên trong lòng tôi như một rạng đông, cái hình ảnh tuổi hai mươi trong trẻo, biết yêu và biết ghét Nhưng đời người ta không chỉ khổ một lần. Mỗi lần cùng đường đất sinh nhai, và bán hết mọi thứ rồi, tôi lại phải bán đi một ít sách của tôi. Sau cùng chỉ còn có năm quyển, tôi nhất định, dù có phải chết cũng không chịu bán. Ấy thế mà tôi cũng bán! Mới cách đây có hơn một tháng thôi, đứa con nhỏ của tôi bị chứng lỵ gần kiệt sức Không! Lão Hạc ơi! Ta có quyền giữ cho ta một tí gì đâu? Lão quý con chó vàng của lão đã thấm vào đâu với tôi quý năm quyển sách của tôi Tôi nghĩ thầm trong bụng thế. Còn lão Hạc, lão nghĩ gì? Đột nhiên lão bảo tôi: – Này! Thằng cháu nhà tôi, đến một năm nay, chẳng có giấy má gì đấy, ông giáo ạ! À! Thì ra lão đang nghĩ đến thằng con lão. Nó đi cao su năm sáu năm rồi. Hồi tôi mới về, nó đã hết một hạn công-ta. Lão Hạc, đem thư của nó sang, mượn tôi xem. Nhưng nó xin đăng thêm một hạn nữa Lão vội cắt nghĩa cho tôi hiểu tại sao lão đang nói chuyện con chó, lại nhảy vọt sang chuyện thằng con như vậy: – Con chó là của cháu nó mua đấy chứ! Nó mua về nuôi, định để đến lúc cưới vợ thì giết thịt Ấy! Sự đời lại cứ thường như vậy đấy. Người ta đã định rồi chẳng bao giờ người ta làm được. Hai đứa mê nhau lắm. Bố mẹ đứa con gái biết vậy, nên cũng bằng lòng gả. Nhưng họ thách nặng quá: nguyên tiền mặt phải một trăm đồng bạc, lại còn cau, còn rượu cả cưới nữa thì mất đến cứng hai trăm bạc. Lão Hạc không lo được. Ý thằng con lão, thì nó muốn bán vườn, cố lo cho bằng được. Nhưng lão không cho bán. Ai lại bán vườn đi mà lấy vợ? Vả lại bán vườn đi, thì cưới vợ về, ở đâu? Với lại, nói cho cùng nữa, nếu đằng nhà gái họ cứ khăng khăng đòi như vậy, thì dẫu có bán vườn đi cũng không đủ cưới. Lão Hạc biết vậy đấy, nhưng cũng không dám xẵng. Lão tìm lời lẽ giảng giải cho con trai hiểu. Lão khuyên nó hãy dằn lòng bỏ đám này, để rồi gắng lại ít lâu, xem có đám nào khác mà nhẹ tiền hơn sẽ liệu; chẳng lấy đứa này thì lấy đứa khác; làng này đã chết hết con gái đâu mà sợ? Lạy trời lạy đất! Nó cũng là thằng khá, nó thấy bố nói thế thì nó thôi ngay, nó không đả động đến việc cưới xin nữa. Nhưng nó có vẻ buồn. Và lão biết nó vẫn theo đuổi con kia mãi. Lão thương con lắm. Nhưng biết làm sao được? Tháng mười năm ấy, con kia đi lấy chồng; nó lấy con trai một ông phó lý, nhà có của. Thằng con lão sinh phẫn chí. Ngay mấy hôm sau, nó ra tỉnh đến sở mộ phu, đưa thẻ, ký giấy xin đi làm đồn điền cao su Lão rân rấn nước mắt, bảo tôi: 8 – Trước khi đi, nó còn cho tôi ba đồng bạc, ông giáo ạ! Chả biết nó gửi thẻ xong, vay trước được mấy đồng, mà đưa về cho tôi ba đồng. Nó đưa cho tôi ba đồng mà bảo: “Con biếu thầy ba đồng để thỉnh thoảng thầy ăn quà; xưa nay con ở nhà mãi cũng không nuôi được bữa nào, thì con đi cũng chẳng phải lo; thầy bòn vườn đất với làm thuê làm mướn thêm cho người ta thế nào cũng đủ ăn; con đi chuyến này cố chí làm ăn, bao giờ có bạc trăm con mới về, không có tiền, sống khổ sống sở ở cái làng này, nhục lắm! ”. Tôi chỉ còn biết khóc, chứ còn biết làm sao được nữa? Thẻ của nó, người ta giữ. Hình của nó, người ta chụp rồi. Nó lại đã lấy tiền của người ta. Nó là người của người ta rồi, chứ đâu còn là con tôi? * * * Lão Hạc ơi! Bây giờ thì tôi hiểu tại sao lão không muốn bán con chó vàng của lão. Lão chỉ còn một mình nó để làm khuây. Vợ lão chết rồi. Con lão đi bằn bặt. Già rồi mà ngày cũng như đêm, chỉ thui thủi một mình thì ai mà chả phải buồn? Những lúc buồn, có con chó làm bạn thì cũng đỡ buồn một chút. Lão gọi nó là cậu Vàng như một bà hiếm hoi gọi đứa con cầu tự. Thỉnh thoảng không có việc gì làm, lão lại bắt rận cho nó hay đem nó ra ao tắm. Lão cho nó ăn cơm trong một cái bát như một nhà giàu. Lão ăn gì lão cũng chia cho nó cùng ăn. Những buổi tối, khi lão uống rượu, thì nó ngồi ở dưới chân. Lão cứ nhắm vài miếng lại gắp cho nó một miếng như người ta gắp thức ăn cho con trẻ. Rồi lão chửi yêu nó, lão nói với nó như nói với một đứa cháu bé về bố nó. Lão bảo nó thế này: – Cậu có nhớ bố cậu không? Hả cậu Vàng? Bố cậu lâu lắm không có thư về. Bố cậu đi có lẽ được đến ba năm rồi đấy Hơn ba năm Có đến ngót bốn năm Không biết cuối năm nay bố cậu có về không? Nó mà về, nó cưới vợ, thì nó giết cậu. Liệu hồn cậu đấy! Con chó vẫn hếch mõm lên nhìn, chẳng lộ một vẻ gì; lão lừ mắt nhìn trừng trừng vào mắt nó, to tiếng dọa: – Nó giết mày đấy! Mày có biết không? Ông cho thì bỏ bố! Con chó tưởng chủ mắng, vẫy đuôi mừng, để lấy lại lòng chủ. Lão Hạc nạt to hơn nữa: – Mừng à? Vẫy đuôi à? Vẫy đuôi thì cũng giết! Cho cậu chết! Thấy lão sừng sộ quá, con chó vừa vẫy đuôi, vừa chực lảng. Nhưng lão vội nắm lấy nó, ôm đầu nó, đập nhè nhẹ vào lưng nó và dấu dí: – À không! À không! Không giết cậu Vàng đâu nhỉ! Cậu Vàng của ông ngoan lắm! Ông không cho giết Ông để cậu Vàng ông nuôi Lão buông nó ra để nhấc chén, ghé lên môi uống. Lão ngẩn mặt ra một chút, rồi bỗng nhiên thở dài. Rồi lão lẩm bẩm tính. Đấy là lão tính tiền bòn vườn của con Sau khi thằng con đi, lão tự hỏi rằng: “Cái vườn là của con ta. Hồi còn mồ ma mẹ nó, mẹ nó cố thắt lưng buộc bụng, dè sẻn mãi, mới để ra được năm mươi đồng bạc tậu. Hồi ấy, mọi thức còn rẻ cả Của mẹ nó tậu, thì nó hưởng. Lớp trước nó đòi bán, ta không cho bán là ta có ý giữ cho nó, chứ có phải giữ để ta ăn đâu? Nó không có tiền cưới vợ, phẫn chí bước ra đi, thì đến lúc có tiền để lấy vợ, mới chịu về. Ta bòn vườn của nó, cũng nên để ra cho nó; đến lúc nó về, nếu nó không đủ tiền cưới vợ thì ta thêm 9 vào với nó, nếu nó có đủ tiền cưới vợ, thì ta cho vợ chồng nó để có chút vốn mà làm ăn ”. Lão tự bảo lão như thế, và lão làm đúng như thế. Lão làm thuê kiếm ăn. Hoa lợi của khu vườn được bao nhiêu, lão để riêng ra. Lão chắc mẩm thế nào đến lúc con lão về, lão cũng có được một trăm đồng bạc Lão lắc đầu chán nản, bảo tôi: – Ấy thế mà bây giờ hết nhẵn, ông giáo ạ! Tôi chỉ ốm có một trận đấy thôi. Một trận đúng hai tháng, mười tám ngày, ông giáo ạ! Hai tháng mười tám ngày đã không làm ra được một xu, lại còn thuốc, lại còn ăn Ông thử tính ra xem bao nhiêu tiền vào đấy? Sau trận ốm, lão yếu người đi ghê lắm. Những công việc nặng không làm được nữa. Làng mất vé sợi, nghề vải đành phải bỏ. Đàn bà rỗi rãi nhiều. Còn tí việc nhẹ nào, họ tranh nhau làm mất cả. Lão Hạc không có việc. Rồi lại bão. Hoa màu bị phá sạch sành sanh. Từ ngày bão đến nay, vườn lão chưa có một tí gì bán. Gạo thì cứ kém mãi đi. Một lão với một con chó mỗi ngày ba hào gạo, mà gia sự vẫn còn đói deo đói dắt – Thì ra cậu Vàng cậu ấy ăn khỏe hơn cả tôi ông giáo ạ. Mỗi ngày cậu ấy ăn thế, bỏ rẻ cũng mất hào rưỡi, hai hào đấy. Cứ mãi thế này thì tôi lấy tiền đâu mà nuôi được? Mà cho cậu ấy ăn ít thì cậu ấy gầy đi, bán hụt tiền, có phải hoài không? Bây giờ cậu ấy béo trùng trục, mua đắt, người ta cũng thích Lão ngắt lại một chút, rồi tặc lưỡi: – Thôi thì bán phắt đi! Đỡ được đồng nào, hay đồng ấy. Bây giờ tiêu một xu cũng là tiêu vào tiền của cháu. Tiêu lắm chỉ chết nó. Tôi bây giờ có làm gì được đâu? * * * Hôm sau lão Hạc sang nhà tôi. Vừa thấy tôi, lão báo ngay: – Cậu Vàng đi đời rồi, ông giáo ạ! – Cụ bán rồi? – Bán rồi? Họ vừa bắt xong. Lão cố làm ra vẻ vui vẻ. Nhưng trông lão cười như mếu và đôi mắt lão ầng ậng nước, tôi muốn ôm choàng lấy lão mà òa lên khóc. Bây giờ thì tôi không xót năm quyển sách của tôi quá như trước nữa. Tôi chỉ ái ngại cho lão Hạc. Tôi hỏi cho có chuyện: – Thế nó cho bắt à? Mặt lão đột nhiên co rúm lại. Những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra. Cái đầu lão ngoẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu như con nít. Lão hu hu khóc – Khốn nạn Ông giáo ơi! Nó có biết gì đâu! Nó thấy tôi gọi về thì chạy ngay về, vẫy đuôi mừng. Tôi cho nó ăn cơm. Nó đang ăn thì thằng Mục nấp trong nhà, ngay đằng sau nó, tóm lấy hai cẳng sau nó dốc ngược nó lên. Cứ thế là thằng Mục với thằng Xiên, hai thằng chúng nó chỉ loay hoay một lúc đã trói chặt cả bốn chân nó lại. Bấy giờ cu cậu mới biết là cu cậu chết! Này! Ông giáo ạ! Cái giống nó cũng khôn! Nó cứ làm in như nó trách tôi; nó kêu ư ử, nhìn tôi như muốn bảo tôi rằng: “A! Lão già tệ lắm! Tôi ăn ở với lão như thế mà lão xử với tôi như thế này?”. Thì ra tôi già bằng này tuổi đầu rồi còn đánh lừa một con chó, nó không ngờ tôi nỡ tâm lừa nó! Tôi an ủi lão: 10 – Cụ cứ tưởng thế đấy chứ nó chả hiểu đâu! Vả lại ai nuôi chó mà chả bán hay giết thịt? Ta giết nó chính là hóa kiếp cho nó đấy, hóa kiếp để cho nó làm kiếp khác. Lão chua chát bảo: – Ông giáo nói phải! Kiếp con chó là kiếp khổ thì ta hóa kiếp cho nó để nó làm kiếp người, may ra có sung sướng hơn một chút kiếp người như kiếp tôi chẳng hạn! Tôi bùi ngùi nhìn lão bảo: – Kiếp ai cũng thế thôi, cụ ạ! Cụ tưởng tôi sung sướng hơn chăng? – Thế thì không biết nếu kiếp người cũng khổ nốt thì ta nên làm gì cho thật sướng? Lão cười và ho sòng sọc. Tôi nắm lấy cái vai gầy của lão, ôn tồn bảo: – Chẳng kiếp gì sung sướng thật, nhưng có cái này là sung sướng: Bây giờ cụ ngồi xuống phản này chơi, tôi đi luộc mấy củ khoai lang, nấu một ấm nước chè tươi thật đặc; ông con mình ăn khoai, uống nước chè, rồi hút thuốc lào Thế là sướng. – Vâng! Ông giáo dạy phải! Đối với chúng mình thì thế là sung sướng. Lão nói xong lại cười đưa đà. Tiếng cười gượng nhưng nghe đã hiền hậu lại. Tôi vui vẻ bảo: – Thế là được, chứ gì? Vậy cụ ngồi xuống đây, tôi đi luộc khoai, nấu nước. – Nói đùa thế, chứ ông giáo cho để khi khác? – Việc gì còn phải chờ khi khác? Không bao giờ nên hoãn sự sung sướng lại. Cụ cứ ngồi xuống đây! Tôi làm nhanh lắm – Đã biết, nhưng tôi còn muốn nhờ ông một việc Mặt lão nghiêm trang lại – Việc gì thế, cụ? – Ông giáo để tôi nói Nó hơi dài dòng một tí. – Vâng, cụ nói. – Nó thế này, ông giáo ạ! Và lão kể. Lão kể nhỏ nhẹ và dài dòng thật. Nhưng đại khái có thể rút vào hai việc. Việc thứ nhất: Lão thì già, con đi vắng, vả lại nó cũng còn dại lắm, nếu không có người trông nom cho thì khó mà giữ được vườn đất để làm ăn ở làng này. Tôi là người nhiều chữ nghĩa, nhiều lý luận, người ta kiêng nể, vậy lão muốn nhờ tôi cho lão gửi ba sào vườn của thằng con lão, lão viết văn tự nhượng cho tôi để không ai còn tơ tưởng dòm ngó đến; khi nào con lão về thì nó sẽ nhận vườn làm, nhưng văn tự cứ để tên tôi cũng được, để thế để tôi trông coi cho nó Việc thứ hai: Lão già yếu lắm rồi, không biết sống chết lúc nào: con không có nhà, lỡ chết không biết ai đứng ra lo cho được; để phiền cho hàng xóm thì chết không nhắm mắt: lão còn được hăm nhăm đồng bạc với năm đồng vừa bán chó là ba mươi đồng bạc, muốn gửi tôi để lỡ có chết thì tôi đem ra, nói với hàng xóm giúp, gọi là của lão có tí chút, còn bao nhiêu đành nhờ hàng xóm cả Tôi bật cười bảo lão: – Sao cụ lo xa quá thế? Cụ còn khỏe lắm, chưa chết đâu mà sợ! Cụ cứ để tiền ấy mà ăn, lúc chết hãy hay! Tội gì bây giờ nhịn đói mà tiền để lại? – Không, ông giáo ạ! Ăn mãi hết đi thì đến lúc chết lấy gì mà lo liệu? Đã đành rằng là thế, nhưng tôi bòn vườn của nó bao nhiêu, tiêu hết cả. Nó vợ con chưa có. Ngộ nó 11 không lấy gì lo được, lại bán vườn thì sao? Tôi cắn rơm, cắn cỏ tôi lạy ông giáo! Ông giáo có nghĩ cái tình tôi già nua tuổi tác mà thương thì ông giáo cứ cho tôi gửi. Thấy lão nằn nì mãi, tôi đành nhận vậy. Lúc lão ra về, tôi còn hỏi: – Có đồng nào, cụ nhặt nhạnh đưa cho tôi cả thì cụ lấy gì mà ăn? Lão cười nhạt bảo: – Được ạ! Tôi đã liệu đâu vào đấy Thế nào rồi cũng xong. Luôn mấy hôm, tôi thấy lão Hạc chỉ ăn khoai. Rồi thì khoai cũng hết. Bắt đầu từ đấy, lão chế tạo được món gì, ăn món ấy. Hôm thì lão ăn củ chuối, hôm thì lão ăn sung luộc, hôm thì ăn rau má, với thỉnh thoảng một vài củ ráy, hay bữa trai, bữa ốc. Tôi nói chuyện lão với vợ tôi. Thị gạt phắt đi: – Cho lão chết! Ai bảo lão có tiền mà chịu khổ! Lão làm lão khổ chứ ai làm lão khổ! Nhà mình sung sướng gì mà giúp lão? Chính con mình cũng đói Chao ôi! Đối với những người ở quanh ta, nếu ta không cố tìm mà hiểu họ, thì ta chỉ thấy họ gàn dở, ngu ngốc, bần tiện, xấu xa, bỉ ổi toàn những cớ để cho ta tàn nhẫn; không bao giờ ta thấy họ là những người đáng thương: không bao giờ ta thương Vợ tôi không ác, nhưng thị khổ quá rồi. Một người đau chân có lúc nào quên được cái chân đau của mình để nghĩ đến một cái gì khác đâu? Khi người ta khổ quá thì người ta chẳng còn nghĩ gì đến ai được nữa. Cái bản tính tốt của người ta bị những nỗi lo lắng, buồn đau ích kỷ che lấp mất. Tôi biết vậy, nên tôi chỉ buồn chứ không nỡ giận. Tôi giấu giếm vợ tôi, thỉnh thoảng giúp ngấm ngầm lão Hạc. Nhưng hình như lão cũng biết vợ tôi không ưng giúp lão. Lão từ chối tất cả những cái gì tôi cho lão. Lão từ chối một cách gần như là hách dịch. Và lão cứ xa tôi dần dần Lão không hiểu tôi, tôi nghĩ vậy, và tôi càng buồn lắm. Những người nghèo nhiều tự ái vẫn thường như thế. Họ dễ tủi thân nên rất hay chạnh lòng. Ta khó mà ở cho vừa ý họ Một hôm, tôi phàn nàn về việc ấy với binh Tư. Binh Tư là một người láng giềng khác của tôi: Hắn làm nghề ăn trộm nên vốn không ưa lão Hạc bởi vì lão lương thiện quá. Hắn bĩu môi và bảo: – Lão làm bộ đây! Thật ra thì lão chỉ tâm ngẩm thế, nhưng cũng ra phết chứ chả vừa đâu. Lão vừa xin tôi một ít bả chó Tôi trố to đôi mắt, ngạc nhiên. Hắn thì thầm: – Lão bảo có con chó nhà nào cứ đến vườn nhà lão Lão định cho nó xơi một bữa. Nếu trúng, lão với tôi uống rượu. Hỡi ơi lão Hạc! Thì ra đến lúc cùng lão cũng có thể làm liều như ai hết. Một người như thế ấy! Một người đã khóc vì trót lừa một con chó! Một người nhịn ăn để tiền lại làm ma, bởi không muốn liên lụy đến hàng xóm, láng giềng Con người đáng kính ấy bây giờ cũng theo gót binh Tư để có ăn ư? Cuộc đời quả thật cứ một ngày một thêm đáng buồn * * * Không! Cuộc đời chưa hẳn đã đáng buồn, hay vẫn đáng buồn nhưng lại đáng buồn theo một nghĩa khác. Tôi ở nhà binh Tư về được một lúc lâu thì thấy những tiếng nhốn nháo ở bên nhà lão Hạc. Tôi mải mốt chạy sang. Mấy người hàng xóm đến trước tôi đang xôn xao ở trong nhà. Tôi xồng xộc chạy vào. Lão Hạc đang vật vã ở trên 12 giường, đầu tóc rũ rượi, quần áo xộc xệch, hai mắt long sòng sọc. Lão tru tréo, bọt mép sùi ra, khắp người chốc chốc lại bị giật mạnh một cái, nẩy lên. Hai người đàn ông lực lưỡng phải ngồi đè lên người lão. Lão vật vã đến hai giờ đồng hồ rồi mới chết. Cái chết thật là dữ dội. Chẳng ai hiểu lão chết vì bệnh gì mà đau đớn và bất thình lình như vậy. Chỉ có tôi với binh Tư hiểu. Nhưng nói ra làm gì nữa! Lão Hạc ơi! Lão hãy yên lòng mà nhắm mắt! Lão đừng lo gì cho cái vườn của lão. Tôi sẽ cố giữ gìn cho lão. Đến khi con trai lão về, tôi sẽ trao lại cho hắn và bảo hắn: “Đây là cái vườn mà ông cụ thân sinh ra anh đã cố để lại cho anh trọn vẹn: cụ thà chết chứ không chịu bán đi một sào ”. TÓM TẮT TRUYỆN NGẮN LÃO HẠC Lão Hạc là một người nông dân nghèo, sống cùng một con chó tên là Vàng. Lão cũng đã từng có vợ con, nhưng người con trai vì nghèo không có tiền lấy vợ nên đã bỏ xứ đi làm đồn điền cao su. Một mình lão phải tự lo liệu mưu sinh. Sau trận ốm thập tử nhất sinh, phải dùng hết tiền tích góp để chạy chữa, nhà lão chẳng còn gì cả. Lão đành phải bán cậu Vàng - chú chó mà lão đã yêu thương như chính con trai mình. Lão mang hết số tiền bán chó gửi nhờ ông Giáo và nhờ ông Giáo coi hộ mảnh vườn. Những ngày sau, lão kiếm được gì thì ăn nấy. Có một hôm, người ta thấy lão xin Binh Tư một ít bả chó, nói dối là đánh bả con chó hay sang vườn để giết thịt ăn, nhưng thực chất đây là cách để lão kết thúc sinh mạng của mình. Cái chết của lão Hạc dữ dội và vật vã, chẳng ai hiểu vì sao lão chết ngoại trừ ông Giáo và Binh Tư. ĐỀ SỐ 1 Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu: Hôm sau lão Hạc sang nhà tôi. Vừa thấy tôi, lão báo ngay : - Cậu Vàng đi đời rồi, ông giáo ạ ! - Cụ bán rồi ? - Bán rồi. Họ vừa bắt xong. Lão cố làm ra vẻ vui vẻ. Nhưng trông lão cười như mếu và đôi mắt lão ầng ậng nước, tôi muốn ôm choàng lấy lão mà òa lên khóc. Bây giờ thì tôi không xót xa năm quyển sách của tôi quá như trước nữa. Tôi chỉ ái ngại cho lão Hạc. Tôi hỏi cho có chuyện : - Thế nó cho bắt à ? Mặt lão đột nhiên co rúm lại. Những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra. Cái đầu lão ngoẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão khóc mếu như con nít. Lão hu hu khóc (Lão Hạc, Nam Cao) 13 Câu 1. Đoạn trích trên kể về sự việc gì? Tác giả đã dùng cách nào để miêu tả tâm lí nhân vật chính? Tìm các câu văn miêu tả tâm lí nhân vật trong đoạn. Câu 2. Liệt kê những từ tượng hình, tượng thanh có trong đoạn trích ? Nêu tác dụng ? Em có nhận xét gì về tâm trạng của nhân vật qua đoạn trích? Câu 3. Nếu em là lão Hạc, trong tình huống đó em có nên bán con chó đi không ? Vì sao ? Câu 4: Viết đoạn văn cảm nhận về đoạn ngữ liệu trên. Gợi ý: Câu 1. Đoạn trích trên kể việc Lão Hạc sang nhà ông giáo kể về việc bán chó. - Tác giả dùng cách miêu tả tâm lí nhân vật qua thái độ biểu hiện trên khuôn mặt, lời nói của nhân vật khi thoại và đặc biệt là qua điểm nhìn của nhân vật ông giáo – người kể chuyện. Cậu Vàng đi đời rồi, ông giáo ạ ! Lão cố làm ra vẻ vui vẻ. Nhưng trông lão cười như mếu và đôi mắt lão ầng ậng nước, tôi muốn ôm choàng lấy lão mà òa lên khóc. Mặt lão đột nhiên co rúm lại. Những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra. Cái đầu lão ngoẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão khóc mếu như con nít. Lão hu hu khóc - Các câu văn miêu tả tâm lí nhân vật Lão Hạc trong đoạn trích. Câu 2 Xác định đúng, chính xác từ tượng thanh, tượng hình: - Từ tượng hình : Móm mém - Từ tượng thanh : Hu hu - Tác dụng : Mô phỏng hình dáng miệng lão Hạc khi khóc và tiếng khóc của lão qua đó gợi lên sự đau khổ của lão Hạc sau khi bán chó. Câu 3 - Câu ghép : Cái đầu lão (CN)/ ngoẹo về một bên(VN) và cái miệng(CN)// móm mém của lão khóc mếu như con nít.(VN) 14 - Mối quan hệ giữa các vế câu trong câu ghép là quan hệ đồng thời Câu 4 Tâm trạng của lão Hạc khi bán cậu Vàng : Buồn, đau khổ, hối hận khi bán chó. Câu 5 - Học sinh tự trả lời: Nên bán hay không nên bán đều được chấp nhận. - Giải thích lý do nên bán hay không nên bán (GV tùy vào tính hợp lý, cách lập luận để giải thích mà ghi điểm) ĐỀ SỐ 2 Đọc phần trích sau: ...“Mấy người hàng xóm đến trước tôi đang xôn xao ở trong nhà. Tôi xồng xộc chạy vào. Lão Hạc đang vật vã trên giường, đầu tóc rũ rượi, quần áo xộc xệch, hai mắt long sòng sọc. Lão tru tréo, bọt mép sùi ra, khắp người chốc chốc lại bị giật mạnh một cái, nảy lên.” (Trích văn bản Lão Hạc Nam Cao) Câu 1. Nêu nội dung nghệ thuật của văn bản “Lão Hạc” – Nam Cao? Câu 2. Tìm các từ thuộc trường từ vựng chỉ bộ phận cơ thể người trong đoạn trích trên? Câu 3. Xác định từ tượng hình, tượng thanh được sử dụng trong đoạn trích trên? Phân tích tác dụng của từ tượng hình, tượng thanh đó? GỢI Ý Câu 1. Học sinh nêu đúng nội dung, nghệ thuật của văn bản “Lão Hạc” :. - Nội dung: Truyện ngắn “Lão Hạc” đã thể hiện một cách chân thực, cảm động số phận đau thương của người nông dân trong xã hội cũ và phẩm chất cao quý tiềm tàng của họ. Đồng thời cho thấy tấm lòng yêu thương, trân trọng của nhà văn đối với người nông dân. - Nghệ thuật: Miêu tả tâm lí nhân vật và cách kể chuyện đặc sắc. Câu 2. Trường từ vựng chỉ bộ phận của cơ thể người: đầu, tóc, mắt, mép. Câu 3. 15 - Học sinh xác định đúng các từ tượng hình, từ tượng thanh trong đoạn văn.. + Từ tượng hình: xồng xộc, vật vã, xộc xệch, rũ rượi, long sòng sòng. + Từ tượng thanh: xôn xao, tru tréo. - Tác dụng:. Gợi tả một cách cụ thể, chân thực và cảm động về cái chết vô cùng đau đớn, dữ dội, thê thảm của lão Hạc. Đề 3 “Hôm sau lão Hạc sang nhà tôi. Vừa thấy tôi, lão báo ngay: - Cậu Vàng đi đời rồi, ông giáo ạ ! - Cụ bán rồi ? - Bán rồi ! Họ vừa bắt xong. Lão cố làm ra vui vẻ. Nhưng trông lão cười như mếu và đôi mắt lão ầng ậng nước, tôi muốn ôm choàng lấy lão mà òa lên khóc. Bây giờ thì tôi không xót xa năm quyển sách của tôi quá như trước nữa. Tôi chỉ ái ngại cho lão Hạc. Tôi hỏi cho có chuyện: - Thế nó cho bắt à ? Mặt lão đột nhiên co rúm lại. Những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra. Cái đầu lão ngoẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu như con nít. Lão hu hu khóc ” (Trích tác phẩm Lão Hạc - Nam Cao) Em hãy đọc kỹ đoạn văn trên và trả lời các câu sau: Câu 1. Tìm các từ tượng hình, từ tượng thanh trong đoạn văn. Câu 2. Đoạn văn trên được kể ở ngôi nào, ngôi kể ấy có tác dụng như thế nào trong việc kể chuyện ? Câu 3. Theo em qua truyện ngắn Lão Hạc, mảng hiện thực cuộc sống nào được phản ánh và giá trị nhân đạo của tp được thể hiện như thế nào? Câu 4. Kể tên các tác phẩm và tác giả thuộc chủ đề Người nông dân Việt Nam trước Cách mạng Tháng 8 năm 1945 đã học trong chương trình Ngữ văn 8, tập một. Đề 3 16 Câu 1. Tìm các từ tượng hình, tượng thanh trong đoạn văn: - Chỉ ra được các từ tượng hình: ầng ậng, móm mém. - Chỉ ra được từ tượng thanh: hu hu. Câu 2. Xác định ngôi kể của đoạn văn: - Đoạn văn trên được kể ở ngôi thứ nhất (ông giáo là người kể chuyện, xưng tôi). - Tác dụng của việc lựa chọn ngôi kể ở ngôi thứ nhất: + Ông giáo – người tham gia câu chuyện, chứng kiến sự việc diễn ra trực tiếp kể lại câu chuyện khiến cho câu chuyện trở nên chân thực, gần gũi hơn. Với cách kể này, câu chuyện được kể như những lời giãi bày tâm sự, cuốn hút độc giả dõi theo. + Việc lựa chọn ngôi kể này còn giúp cho cách dẫn dắt câu chuyện trở nên tự nhiên, linh hoạt hơn, lời kể chuyển dịch trong mọi không gian, thời gian kết hợp giữa kể với tả, hồi tưởng với bộc lộ cảm xúc trữ tình và triết lý sâu sắc. Câu 3. - Hiện thực cuộc sống và số phận đau khổ của người nông dân trước cách mạng tháng Tám được phản ánh. - Trước hết, giá trị nhân đạo của tác phẩm được khẳng định qua tấm lòng đồng cảm, sự sẻ chia, cảm thông sâu sắc của nhà văn trước số phận đau thương, bất hạnh của người lao động, đặc biệt là của người nông dân Việt Nam trước Cách mạng tháng 8 năm 1945. - Truyện còn cho thấy tấm lòng yêu thương, trân trọng với người nông dân (lão Hạc) của nhà văn; đồng thời ngợi ca những phẩm cao quý của lão Hạc... Câu 4. Kể tên các tác phẩm và tác giả thuộc chủ đề “Người nông dân Việt Nam trước Cách mạng Tháng 8 năm 1945” đã học trong chương trình Ngữ văn 8, tập 1: - Tác phẩm Lão Hạc của nhà văn Nam Cao - Tác phẩm Tắt đèn của nhà văn Ngô Tất Tố Đề số 4 Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi: “...Này! Ông giáo ạ! Cái giống nó cũng khôn! Nó cứ làm in như nó trách tôi; nó kêu ư ử, nhìn tôi, như muốn bảo tôi rằng: “A! Lão già tệ lắm! Tôi ăn ở với lão như thế mà lão xử với tôi như thế này à?”. 17 (Trích Lão Hạc-Nam Cao, SGK Ngữ văn 8) Câu 1. Người kể trong đoạn trích là ai? Kể về sự việc gì? Câu 2. Chỉ ra các thán từ và các tình thái từ được sử dụng trong đoạn trích trên và cho biết tác dụng? Câu 3. Đặt một câu ghép chỉ nguyên nhân vì sao lão Hạc gửi tiền cho ông giáo? Gợi ý. Câu 1. Người kể trong đoạn trích là lão Hạc, kể về việc lão bán con chó vàng mà lão yêu quý. Câu 2. - Các thán từ: Này, a. - Các tình thái từ: ạ, à. Tác dụng: bộc lộ được tình cảm, cảm xúc và thái độ của nhân vật trong cuộc trò chuyện. Câu 3. Đặt câu: Lão Hạc gửi tiền cho ông giáo vì lão lo lão chỉ có một thân một mình, lão chết lại không có ai lo ma chay cho mình, và lão không muốn tiêu vào tiền của cậu con trai. Vì lão không muốn khi chết liên lụy đến hàng xóm nên lão đã gửi tiền ông giáo để làm ma cho mình. Câu 3: Dấu ba chấm (dấu chấm lửng) được nhắc lại nhiều lần trong đoạn văn sau có tác dụng gì: " Chao ôi! Đối với những người ở quanh ta, nếu ta không cố tìm mà hiểu họ, thì ta chỉ thấy họ gàn dở, ngu ngốc, bần tiện, xấu xa, bỉ ổi...toàn những cớ để cho ta tàn nhẫn; không bao giờ ta thấy họ là những người đáng thương; không bao giờ ta thương...” (Lão Hạc, Nam Cao) A. Ngụ ý rằng còn nhiều điều ông giáo chưa kể hết. 18 B. Làm dãn nhịp điệu câu văn. C. Thể hiện sự ngập ngừng, ngỡ ngàng đau đớn trong lòng ông giáo. D. Cả A, B, C đều đúng ĐỀ SỐ 4 Đọc kĩ đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi bằng cách khoanh tròn đáp án đúng: “Hôm sau lão Hạc sang nhà tôi. Vừa thấy tôi, lão báo ngay: - Cậu Vàng đi đời rồi, ông giáo ạ! - Cụ bán rồi? - Bán rồi. Họ vừa bắt xong. Lão cố làm ra vẻ vui vẻ. Nhưng trông lão cười như mếu và đôi mắt lão ầng ậng nước, tôi muốn ôm choàng lấy lão mà òa lên khóc. Bây giờ thì tôi không xót xa năm quyển sách của tôi quá như trước nữa. Tôi chỉ ái ngại cho lão Hạc. Tôi hỏi cho có truyện: - Thế nó cho bắt à? Mặt lão đột nhiên co rúm lại. Những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra. Cái đầu lão ngoẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu như con nít. Lão hu hu khóc (Lão Hạc – Nam Cao) Câu 1: Từ nào thay thế được từ "đi đời" trong câu "Cậu Vàng đi đời rồi, ông giáo ạ!"? A. Chết B. Hi sinh C. Bỏ mạng D. Hết đời Câu 2: Trong các từ sau đây, từ nào là từ tượng hình? 19 A. Móm mém. B. Vui vẻ. C. Xót xa. D. Ái ngại. Câu 3: Ý nào sau đây nói đúng nhất về nội dung của đoạn văn sau: Lão cố làm ra vẻ vui vẻ. Nhưng trông lão cười như mếu và đôi mắt lão ầng ậng nước [...] Mặt lão đột nhiên co rúm lại. Những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra. Cái đầu lão ngoẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu như con nít. Lão hu hu khóc (Lão Hạc, Nam Cao) A. Sự yếu đuối của lão Hạc B. Sự già nua của lão Hạc C. Sự đau đớn về tinh thần của lão Hạc D. Sự cực khổ của lão Hạc Câu 4: Qua nhân vật Lão Hạc trong tác phẩm, em hiểu được gì về người nông dân trong xã hội cũ? A. Họ là những con người có số phận nghèo khổ, bần cùng trong xã hội. B. Giàu lòng yêu thương gia đình, trân trọng tình cảm. C. Luôn giữ tấm lòng trong sạch, cao đẹp giữa những bùn nhơ của xã hội thực dân nửa phong kiến. D. Tất cả đều đúng Câu 5: Qua đoạn trích, em thấy lão Hạc là người có tính cách như thế nào? A. Là một người có số phận đau thương nhưng có phẩm chất cao quý. B. Là người nông dân sống ích kỉ đến mức gàn dở, ngu ngốc. 20

File đính kèm:

  • pdfgiao_an_day_them_ngu_van_8_buoi_1_3.pdf