Giáo án bồi dưỡng HSG Địa lí 8 - Chuyên đề: Thủy văn Việt Nam - Năm học 2023-2024

pdf15 trang | Chia sẻ: KA KA | Ngày: 16/01/2026 | Lượt xem: 3 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Giáo án bồi dưỡng HSG Địa lí 8 - Chuyên đề: Thủy văn Việt Nam - Năm học 2023-2024, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Ngày soạn:12/1/2024 CHUYÊN ĐỀ 5:THỦY VĂN VIỆT NAM I. MỤC TIÊU BÀI HỌC 1. Kiến thức: - Nêu được đặc điểm mạng lưới sông và chế độ nước sông cùa một số hệ thống sông lớn. - Phân tích được vai trò của hồ, đầm và nước ngầm đối với sản xuất và sinh hoạt. - Trình bày được sự phân hoá đa dạng của mạng lưới thuỷ văn Việt Nam. - So sánh mối quan hệ giữa đặc điểm thuỷ văn Việt Nam với các thành phẩn tự nhiên khác. 2. Về năng lực a. Năng lực chung: - Năng lực tự học. -Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo b. Năng lực địa lí - Tìm mối liên hệ giữa các yếu tố đối với mạng lưới sông. 3. Phẩm chất - Yêu mến môn học II. NỘI DUNG 1. SÔNG NGÒI VIỆT NAM 1.1 ĐẶC ĐIỂM CHUNG SÔNG NGÒI VIỆT NAM a. Nước ta có mạng lưới sông ngòi dày đặc, phân bố rộng khắp trên đất liền - Theo thống kê, nước ta có 2360 con sông dài trên 10km, mật độ lưới sông trung bình 0,6km/km2, nơi có mật độ lớn là 1,5km/km2; ở vùng đồng bằng châu thổ tới 3 – 4 km/km2. Dọc bờ biển cứ 20km gặp 1 của sông. - Sông ngòi nước ta chủ yếu là sông nhỏ và ngắn (93%) (diện tích lưu vực dưới 500km2). - Các sông lớn như sông Hồng, sông Mê Công (Cửu Long) chỉ có phần trung và hạ lưu chảy qua lãnh thổ nước ta, tạo nên những đồng bằng rộng lớn và phì nhiêu. * Nguyên nhân: - Nước ta có khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, lượng mưa lớn nên có mạng lưới sông ngòi dày đặc - Vì Việt Nam hẹp ngang và nằm sát biển -> chủ yếu là sông nhỏ, ngắn - Địa hình Việt Nam có nhiều đồi núi. Đồi núi ăn ra sát biển nên dòng chảy dốc, lũ lên rất nhanh. Vì sao phần lớn sông ngòi nước ta thường nhỏ, ngắn, dốc? - Vì Việt Nam hẹp ngang và nằm sát biển. - Địa hình Việt Nam có nhiều đồi núi. Đồi núi ăn ra sát biển nên dòng chảy dốc, lũ lên rất nhanh. b. Sông ngòi chảy theo hai hướng chính là hướng tây bắc – đông nam và vòng cung - Hướng Tây bắc – đông nam (hướng chủ yếu) có các sông: sông Đà, sông Hồng, sông Mã, sông Cả, sông Ba, sông Tiền, sông Hậu. - Hướng vòng cung: sông Lô, sông Gâm, sông Cầu , sông Thương, sông Lục Nam - Các hướng khác: s.Kì Cùng (ĐN-TB), s.Đồng Nai (ĐB-TN), s.Xê-xan (Đ-T). Nguyên nhân: do địa hình có hai hướng chính là TB-ĐN và hướng vòng cung. c.Thủy chế sông ngòi: Sông ngòi nước ta có hai mùa rõ rệt là mùa lũ (70-80% tổng lượng nước cả năm) và mùa cạn. Vào mùa lũ nước sông ngòi dâng cao và chảy mạnh. Lượng nước mùa lũ gấp hai đến ba lần, có nơi đến bốn lần lượng nước mùa cạn và chiếm 70-80% lượng nước cả năm d. Sông ngòi nước ta có nhiều nước và lượng phù sa lớn - Sông ngòi nước ta có nhiều nước: hàng năm vận chuyển tới 800 tỉ m3 nước - Tổng lượng phù sa lớn trên 200 triệu tấn/ năm - Hàm lượng phù sa lớn: trung bình có 223 gam cát bùn/m3 nước. 1.2. CÁC HỆ THỐNG SÔNG LỚN -9 hệ thống sông lớn ở nước ta: sông Hồng, sông Thái Bình, sông Kì Cùng - Bằng Giang, s.Mã, s. Cả, s.Thu Bồn, s.Ba (Đà Rằng), s.Đồng Nai, s.Mê Công (Cửu Long), được phân định bằng các đường ranh giới lưu vực (đường chia nước). - Các sông có lưu vực nhỏ (nhỏ hơn 10 000km2) có đặc điểm sau: + Sông ngắn, diện tích lưu vực nhỏ, độ dốc lớn + Đều là các sông ven biển, tập trung ở vùng ven biển Đông Bắc thuộc tỉnh Quảng Ninh và các tỉnh duyên hải Miền Trung + Thủy chế thất thường, hay xảy ra lũ lớn. Một số hệ thống sông lớn: a. Hệ thống sông Hồng: - Tiêu biểu cho khu vực sông ngòi Bắc Bộ là hệ thống s.Hồng. - Đặc điểm mạng lưới sông: + Chiều dài của dòng chính là 1126 km, đoạn trung lưu và hạ lưu chảy qua nước ta dài 556 km. + Có hai phụ lưu chính là sông Đà và sông Lô. + Tất cả các phụ lưu lớn hợp với dòng chính sông Hồng tạo thành một mạng lưới sông hình nan quạt, hội tụ tại Việt Trì (Phú Thọ). -Chế độ nước sông: + Có hai mùa: mùa lũ bắt đầu từ tháng ố và kết thúc vào tháng 10 phù hợp với mùa mưa, chiếm khoảng 75% tổng lượng nước cả năm; mùa cạn bắt đầu từ tháng 11 và kết thúc vào tháng 5 năm sau, chỉ chiếm khoảng 25% tổng lượng nước cả năm. + Do mạng lưới sông có dạng nan quạt, nên khi mưa lớn, nước tập trưng nhanh, dễ gây lũ lụt. b. Hệ thống sông Thu Bồn - Hệ thống sông Thu Bồn là tiêu biểu cho sông ngòi Trung Bộ. - Đặc điểm mạng lưới sông: + Tổng chiều dài dòng chảy chính là 205 km + Có 78 phụ lưu có chiểu dài trên 10 km. + Các sông, suối trong hệ thống sông thường ngắn và dốc, phần thành nhiều lưu vực nhỏ độc lập. + Mạng lưới sông có dạng nan quạt. - Chế độ nước sông: + Chia làm hai mùa rõ rệt: mùa lũ diễn ra từ tháng 9 đến tháng 12 phù hợp với mùa mưa thu đông và mùa bão (chiếm khoảng 65 % tổng lượng nước cả năm); mùa cạn kéo dài từ tháng 1 đến tháng 9 (chiếm 35% tổng lượng nước cả năm). + Lũ tại hệ thống sông Thu Bổn lên rất nhanh và đột ngột, nhất là khi gặp mưa và bão lớn. c. Hệ thống sông Mê Công - Hệ thống sông Mê Công là là hệ thống sông lớn nhất Đông Nam Á, tiêu biểu cho sông ngòi Nam Bộ. - Đặc điểm mạng lưới sông: + Chiều dài dòng chính là 4300km, chảy qua 6 quốc gia, phần chảy qua lãnh thổ Việt Nam sông dài hơn 230 km, có nhiều phụ lưu, riêng ở Việt Nam có 286 phụ lưu, lớn nhất là sông Srê Pôk. + Mạng lưới sông có hình lông chim. Hai chi lưu lớn ở Việt Nam là sông Tiền và sông Hậu, được chia ra thành nhiều sông nhỏ cùng hệ thống kênh rạch chằng chịt đổ ra biển bằng 9 cửa nên gọi là s. Cửu Long. - Chế độ nước sông: + Có hai mùa: mùa lũ kéo dài từ tháng 7 đến tháng 11, chiếm khoảng 80% tổng lượng nước ca năm; mùa cạn từ tháng 12 đến tháng ố năm sau, chiếm khoảng 20% tổng lượng nước cả năm. + Do mạng lưới sông dạng lông chim và được điều tiết bởi hồ Tôn-lê Sáp (Cam-pu-chia) nên vào mùa lũ nước sông lên và xuống chậm. 2. HỒ, ĐẦM Việt Nam có nhiều hồ, đầm tự nhiên (do có lượng mưa lớn cùng với nhiều vùng trũng có khả năng chứa nước) và nhiều hồ nhân tạo (hồ thủy lợi, hồ thủy điện, hồ điều hòa ). Hồ, đầm có vai trò quan trọng đối với sản xuất và sinh hoạt ở nước ta: - Đối với sản xuất: + Nông nghiệp: Các hồ, đầm nước ngọt là nguồn cung cấp nước cho trồng trọt và chăn nuôi. Hồ, đầm là mặt nước tự nhiên để nuôi trổng, đánh bắt thuỷ sản nước ngọt, nước lợ và nước mặn như đầm phá Tam Giang (Thừa Thiên Huế), đầm Thị Nại (Bình Định), hồ thủy điện Hòa Bình + Công nghiệp: Các hồ thuỷ điện (Sơn La, Hòa Bình, Ialy ) là nơi trữ nước cho nhà máy thuỷ điện. Hồ cung cấp nước cho các ngành công nghiệp như: chế biến lương thực - thực phẩm, khai khoáng,... + Dịch vụ: Một số hồ, đầm thông với các sông, biển có giá trị về giao thông. Nhiều hồ, đầm có cảnh quan đẹp, hệ sinh thái với tính đa dạng sinh học cao, khí hậu trong lành được khai thác để phát triển du lịch như hồ Ba Bể (Bắc Cạn), hồ Tơ Nưng (Gia Lai) + Đối với sinh hoạt: Hồ, đầm phục vụ nhu cầu nước trong sinh hoạt, là nguồn dự trữ nước ngọt lớn. Hồ, đầm đóng vai trò đảm bảo an ninh nguồn nước, nhất là ở các khu vực có mùa khô sâu sắc. 3. NƯỚC NGẦM a. Đặc điểm: Nước ngầm ở nước ta là nguồn tài nguyên quý giá. Việt Nam có nguồn nước ngầm khá phong phú, phân bố khắp cả nước nhưng không đều: Nguồn nước ngầm phong phú nhất ở đồng bằng phù sa, đặc biệt là tại các bậc thểm phù sa cổ và các cồn cát duyên hải. Một số nơi ở vùng núi và cao nguyên đá vôi có lượng nước ngầm lớn do có nhiều khe nứt và hang động ngầm chứa nước; mực nước ngầm ở đây nằm rất sâu, thường trên 100 m. Ở các vùng núi, các cao nguyên badan cũng sẵn nguồn nước ngầm thường ở độ sâu 10 - 150 m với chất lượng tốt, phần lớn là nước ngọt, một số nơi có nước khoáng. Lượng nước ngầm giảm ở các bãi bổi phù sa mới (đất nhiều hạt mịn khó thấm nước), các vùng đá cuội kết, cát kết và vùng đá biến chất. Mực nước ngầm dao động khá rõ rệt giũa hai mùa, lên cao vào mùa mưa và hạ thấp vào mùa khô. b.Vai trò Nước ngầm có vai trò quan trọng đối với sản xuất và sinh hoạt của con người: - Đối với sản xuất: + Nông nghiệp: Nước ngầm cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp (trổng trọt, chăn nuôi, nuôi trổng thuỷ sản,...) đặc biệt với các vùng khan hiếm nước mặt như Tây Nguyên, Duyên hải Nam Trung Bộ. + Công nghiệp: Nước ngầm được sử dụng trong nhiều ngành công nghiệp như: chế biến lương thực - thực phẩm, sản xuất giấy,... + Dịch vụ Một số nguồn nước nóng, nước khoáng được khai thác để chữa bệnh và phát triển du lịch nghỉ dưỡng. - Đối với sinh hoạt: Nước ngầm là nguồn nước quan trọng phục vụ cho sinh hoạt của người dân ở nước ta. - Đặc biệt một số nước khoáng còn được sử dụng làm nước uống giải khát, chữa bệnh và phát triển du lịch. - Tuy nhiên, nước ngầm cũng có thể làm đất bị muối hoá, gây trở ngại cho một số công trình ngầm, khai thác mỏ,... 4. TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC SỬ DỤNG TỔNG HỢP TÀI NGUYÊN NƯỚC ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở VIỆT NAM Nước là tài nguyên quý giá của Việt Nam. Nước đã được sử dụng vào nhiều mục địch: giao thông, du lịch, sinh hoạt, tưới tiêu, đánh bắt và nuôi trồng thủy sản, thủy điện, Việc sử dụng tổng hợp tài nguyên nước có ý nghĩa quan trọng, đó là: - Góp phần mang lại hiệu quả kinh tế cao. - Hạn chế sự lãng phí, góp phần bảo vệ các hệ sinh thái dưới nước, bảo vệ tài nguyên nước phục vụ mục tiêu phát triển bền vững. - Bảo vệ các hệ sinh thái ở lưu vực sông. - Góp phần phòng chống thiên tai (bão, lũ) trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu hiện nay, vấn đề sử dụng tổng hợp tài nguyên nước càng trở nên cấp thiết hơn. Câu hỏi ôn tập: Vai trò của vị trí địa lí và phạm vi lãnh thổ đối với thuỷ văn Việt Nam? Do vị trí nằm ở rìa đông của lục địa rộng lớn cộng với hình thể hẹp ngang cho nên các lưu vực sông của nước ta đểu có một phần, thậm chí là phần lớn nằm bên ngoài lãnh thổ. Đối với các sông lớn thì diện tích lưu vực bên ngoài có thể chiếm đa số ví dụ như sông Cửu Long hơn 90%, sông Hồng hơn 50%, sông Mã 38%, sông Cả 35%, do đó dẫn đến vấn đễ khai thác và sử dụng tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên nước cần thiết phải có sự phối hợp hành động giữa các quốc gia có liên quan trong lưu vực. -Nước ta nằm ở phía đông của bán đảo Trung Ấn, là nơi chuyển tiếp xuống vùng biển và đại dương rộng lớn cộng với hình dạng lãnh thổ hẹp và kéo dài cho nên nước ta trở thành nơi hội tụ các hệ thống sông của các quốc gia trong khu vực như hệ thống sông Mê Công, hệ thống sông Mã, hệ thống sông Hồng, hệ thống sông Cả,... Dựa vào Atlat Địa lí Viêt Nam và kiến thức đã hoc, hãy trình bày đăc điểm chung sông ngòi của Việt Nam? a) Nước ta có mạng lưới sông ngòi dày đặc, phân bố rộng khắp trên cả nước - Có 2360 con sông dài trên 10km - Phần lớn sông của nước ta là sông nhỏ, ngắn và dốc. - Các sông lớn thường chỉ có phần trung và hạ lưu chảy qua lãnh thổ nước ta b) Sông của nước ta chảy theo hai hướng chính: tây bắc - đông nam và hướng vòng cung - Hướng tây bắc - đông nam (hướng chủ yếu): sông Hồng, sông Đà, sông Chảy, sông Cả, sông Mã, sông Ba, sông Vàm cỏ (Đông - Tây), sông Tiền, sông Hậu ... - Hướng vòng cung: sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam, sông Lô, sông Gâm - Các hướng khác: Sông Kì Cùng (ĐN - TB), sông Đồng Nai (ĐB - TN), sông Xê Xan (Đ- T) c) Sông ngòi nước ta có hai mùa nước: mùa lũ và mùa cạn khác nhau rõ rệt - Mùa lũ nước sông dâng cao, chảy mạnh, chiếm 70-80% lượng nước cả năm, thường gây lụt lội. - Do đặc điểm hình dạng mạng lưới sông, địa hình, địa chất nên tính chất lũ của các sông cũng khác nhau. Sông miền Bắc lũ dữ, lên nhanh, xuống nhanh, sông Miền Trung lũ lên nhanh, sông miền Nam lũ hiền, lên chậm, xuống chậm. - Do chế độ mưa trên mỗi lưu vực khác nhau nên mùa lũ của các sông không trùng nhau. d) Sông ngòi nước ta có lượng phù sa lớn, nhiều nước - Hàng năm vận chuyển tới 839 tỉ m3 nước - Tổng lượng phù sa lớn trên 200 triệu tấn/ năm - Hàm lượng phù sa lớn: trung bình có 223 gam cát bùn/m3 nước là nguồn tài nguyên lớn cho đời sống và sản xuất Dưa vào Atlat Địa lí Viêt Nam và kiến thức đã hoc, hãy trình bày đăc điểm hê thống sông Hồng? - Đặc điểm lưu vực, hình thái: + Sông Hồng bắt nguồn từ cao nguyên Vân Quý (Trung Quốc) chảy vào Việt Nam với chiều dài 1126 km và diện tích lưu vực là 143 700 km2 + Hệ thống sông Hồng gồm dòng chính là sông Thao với nhiều phụ lưu và chi lưu trong đó 2 phụ lưu quan trọng nhất là sông Đà và sông Lô hợp tại Việt Trì tạo ra mạng lưới sông hình nan quạt. + Hướng chảy Tây Bắc-Đông Nam và đổ ra vịnh Bắc Bộ với cửa chính là Ba Lạt, ngoài ra có các cửa khác như Trà Lí, Lạch Giang, cửa Đáy + Phần thượng và trung lưu chảy qua vùng núi với độ dốc lớn, phần hạ lưu chảy trong vùng đồng bằng vì vậy lòng sông uốn khúc quanh co - Nguồn cung cấp nước và chế độ nước của sông + Nguồn cung cấp nước chủ yếu từ nước mưa + Tổng lưu lượng nước lớn + Thủy chế: chia thành hai mùa rõ rệt: mùa lũ và mùa cạn Mùa lũ từ tháng 6-10 chiếm khoảng hơn 70% tổng lượng nước cả năm, đỉnh lũ là tháng 8 chiếm khoảng 20% tổng lượng nước trong năm. Mùa cạn từ tháng 11-5 chiếm gần 30% tổng lượng nước cả năm với đỉnh cạn là tháng 2 hoặc tháng 3 chiếm khoảng 2-3% tổng lượng nước trong năm. Sự chênh lệch giữa mùa lũ và mùa cạn lớn: Tổng lượng nước trong mùa lũ lớn hơn nhiều lần trong mùa cạn, đỉnh lũ lớn gấp nhiều lần đỉnh cạn. Đặc điểm lũ: lên nhanh và rút chậm. - Hàm lượng phù sa lớn khoảng 200 triệu tấn/năm - Giá trị: + Thuận lợi: thượng và trung lưu có tiềm năng thủy điện, phần hạ lưu có giá trị cung cấp nước, phát triển giao thông thủy, bồi đắp phù sa, nuôi trồng thủy sản . + Khó khăn: lũ quét, bồi lắng hồ chứa, .. Dựa vào bảng số liệu sau hãy nhận xét chế độ nước của hệ thống sông Hồng và Cửu Long? Lưu lượng dòng chảy của sông Hồng (Sơn Tây), sông Cửu Long (Mĩ Thuận) (Đơn vị: m3/s) Tháng I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Sông 1318 1100 914 1071 1893 4692 7986 9246 6690 4122 2813 1746 Hồng Sông 1357 Cửu 6840 1570 1638 2920 10360 18860 21400 27500 29000 22000 23030 0 Long * Sông Hồng - Tổng lưu lượng nước tương đối lớn: 43591 (m3/s) - Sự phân mùa lũ - cạn: + Mùa lũ: Thời gian từ tháng VI đến tháng X, với tổng lượng nước 32736 m3/s chiếm 75,1% tỉ lệ lưu lượng nước cả năm, tháng lớn nhất là tháng VIII đạt 9246 m3/s (21,21 % lượng nước cả năm) + Mùa cạn: Thời gian từ tháng XI đến tháng V, với tổng lượng nước 10855 m3/s chiếm 24,9% tỉ lệ lưu lượng nước cả năm, tháng thấp nhất là tháng III (chiếm 2,1 % lưu lượng nước cả năm) - Mức độ tương phản hai mùa lũ - cạn khá sâu sắc: lưu lượng nước mùa lũ gấp 3,01 lần mùa cạn (tháng lũ lớn nhất gấp 10,12 lần lưu lượng tháng kiệt nhất) * Sông Cửu Long - Lưu lượng nước sông Cửu Long lớn (tổng 178688 m3/s) - Sự phân mùa của chế độ thuỷ văn: có một mùa lũ và một mùa cạn + Mùa lũ: kéo dài 6 tháng (VII - XII), với tổng lượng nước 141790m3/s, chiếm gần 80% lưu lượng cả năm, tháng đỉnh lũ là tháng X với lưu lượng nước trung bình đạt 29000 m3/s (16,2% lượng nước cả năm). + Mùa cạn: từ tháng I - VI, chiếm 20% lưu lượng nước cả năm, tháng kiệt nhất là tháng III (lưu lượng nước chỉ đạt 1570 m3/s chiếm 0,9% lượng nước cả năm). - Sự chênh lệch lượng dòng chảy giữa 2 mùa cao (lưu lượng nước mùa lũ gấp 4 lần mùa cạn), tháng đỉnh lũ gấp 18,5 lần tháng kiệt nhất. Kết luận: chế độ nước đơn giản với 1 mùa lũ và một mùa cạn Dựa vào Atlat Địa lí Việt Nam và kiến thức đã học, hãy trình bày đặc điểm hệ thống sông Cửu Long Giải thích các đặc điểm chung của sông ngòi Việt Nam? - Khái quát các đặc điểm chung của sông ngòi Việt Nam - Nước ta có lượng mưa lớn trên địa hình chủ yếu là đồi núi và bị cắt xẻ mạnh, sườn dốc lớn nên mạng lưới sông ngòi dày đặc. - Lãnh thổ hẹp ngang, nằm sát biển nên phần lớn sông đều nhỏ, ngắn. - Địa hình nước ta có nhiều đồi núi, đồi núi ăn ra sát biển. Sông thường bắt nguồn từ vùng đồi núi phía tây đổ ra các đồng bằng ven biển phía đông nên dòng chảy dốc, lũ lên rất nhanh - Sông ngòi nhiều nước, giàu phù sa + Sông ngòi nước ta nhiều nước do có lượng mưa lớn, hơn nữa nước ta lại nhận được một lượng nước lớn bên ngoài lãnh thổ. + Giàu phù sa do hệ quả của quá trình xâm thực mạnh ở khu vực đồi núi. - Chế độ nước thất thường (thuỷ chế theo mùa) + Nhịp điệu dòng chảy theo sát nhịp điệu mùa của khí hậu: mùa lũ tương ứng với mùa mưa và mùa cạn tương ứng với mùa khô. + Tính thất thường trong chế độ mưa quy định tính thất thường trong chế độ nước sông. - Đại bộ phận sông ngòi Việt Nam chảy theo hướng tây bắc - đông nam và tất cả các sông đều đổ ra Biển Đông do qui định của hướng cấu trúc địa hình và địa thế thấp dần từ tây bắc xuống đông nam. Tại sao chế độ nước sông Mê Kông điều hòa hơn chế độ nước sông Hồng? - Khái quát về hai hệ thống sông: .... - Giải thích: + Chế độ mưa, diện tích lưu vực: Sông Hồng ngắn hơn sông Mê Kông, diện tích lưu vực của sông Hồng nhỏ hơn diện tích lưu vực sông Mê Kông; lưu vực sông Hồng nằm gần trọn một chế độ khí hậu mưa mùa, trong khi đó lưu vực sông Mê Kông nằm ở các vùng khí hậu khác nhau. Do đó, lưu vực sông Hồng nhận được lượng mưa trong cùng thời gian, trong khi đó lưu vực sông Mê Kông nhận được lượng mưa rải đều trong năm nên chế độ nước của sông Mê Kông điều hoà hơn sông Hồng (sông Hồng và sông Mê Kông đều nhận nguồn tiếp nước chủ yếu là nước mưa) + Địa thế: Sông Hồng dốc hơn sông Mê Kông (lòng sông Hồng chảy thẳng, sông Mê Kông chảy uốn khúc quanh co...) nên nước ở sông Hồng lên nhanh, rút nhanh hơn sông Mê Kông. + Thảm thực vật: Thảm thực vật ở lưu vực sông Hồng bị tàn phá nhiều, trong khi đó ở lưu vực sông Mê Kông thảm thực vật còn khá lớn (phần trung lưu chảy qua nước Lào diện tích rừng còn nhiều), vì vậy khi nước mưa rơi xuống trong thời gian ngắn được đổ dồn xuống lòng sông Hồng, còn ở lưu vực sông Mê Kông nước mưa xuống tới mặt đất, một phần bị lớp thảm thực vật giữ lại, một phần theo các rễ cây thấm xuống đất nên dòng sông Mê Kông điều hoà hơn sông Hồng. + Hồ, đầm: Sông Mê Kông có biển Hồ có tác dụng điều hoà chế độ nước sông. + Hình thái mạng lưới sông dạng lông chim, mạng lưới kênh rạch chằng chịt; Sông Mê Kông có 9 cửa sông đổ nước ra biển còn sông Hồng có 3 cửa sông đổ ra biển... Tại sao mực nước lũ ở các sông miền Trung nước ta thường lên rất nhanh? - Lượng mưa lớn tập trung trong thời gian ngắn - Hình thái sông ngòi nhỏ, ngắn, dốc - Sông trong nội địa, diện tích lưu vực nhỏ - Rừng đầu nguồn nhiều nơi bị tàn phá - Yếu tố khác: nhiều hồ thủy điện xả lũ cùng lúc, bão, áp thấp. Vì sao mật độ sông ngòi của Đồng bằng sông Cửu Long nước ta lớn? - Khí hậu: lượng mưa lớn trung bình > 1500 mm - Địa hình đồng bằng sông chảy quanh co uốn lượn - Tác động của con người như xây dựng hệ thống mương máng, kênh đào chằng chịt... Tại sao thời gian gần đây tổng lượng phù sa của sông ngòi nước ta giảm đi so với những năm 80, 90 của thế kỉ trước? (hiện nay khoảng 200 triệu tấn/năm so với trước khoảng 300 triệu tấn/năm). - Phù sa của sông ngòi do quá trình rửa trôi, xói mòn đất ở vùng trung du và miền núi sau đó tích tụ lại ở những vùng trũng thấp (ven sông, vùng đồng bằng ven biển) - Trước kia phù sa nhiều do hậu quả của việc phá rừng bừa bãi nên thúc đẩy quá trình rửa trôi, xói mòn đất ở trung du và miền núi. Sau đó, nước ta đã tích cực trồng rừng, bảo vệ rừng đầu nguồn, ... nên quá trình phá hủy đất ở miền núi bị giảm dần nên lượng phù sa cũng giảm đi. - Việc xây dựng các hồ chức nước ở thượng nguồn làm lắng đọng phù sa ... Ở lưu vực của sông nước ta, rừng phòng hộ thường được trồng ở đâu? Vì sao? Thực vật ở lưu vực sông cũng góp phần điều hòa chế độ nước của sông. Khi nước mưa rơi xuống, một phần lượng nước khá lớn được giữ lại ở tán cây, phần còn lại khi xuống tới bề mặt đất một phần được lớp thảm mục giữ lại, một phần len lỏi qua các rễ cây thấm dần xuống đất tạo nên các mạch nước ngầm, điều hòa dòng chảy cho sông ngòi, giảm lũ lụt. Rừng phòng hộ thường được trồng ở đầu nguồn các con sông để ngăn bớt nước dồn xuống sông khi có mưa lớn, tăng nguồn nước ngầm để cung cấp nước cho sông vào mùa khô Vì sao ”sống chung với lũ” là cách ứng xử tốt nhất đối với tự nhiên ở đồng bằng sông Cửu Long? Lũ ở đồng bằng sông Cửu Long chủ yếu do hệ thống sông Cửu Long mang lại trong mùa mưa. - Sông Cửu Long dài, diện tích lưu vực lớn, dạng lông chim nên tập trung nước, tổng lượng nước lớn, có hồ Tônlêxap điều tiết nước, nên lũ tương đối điều hòa và kéo dài trong nhiều tháng. - Từ lâu đời, người dân đã thích ứng với mùa lũ. Mùa lũ mang lại nhiều lợi ích như: tôm, cá, phù sa ngọt, nước ngọt rửa phèn, mặn trong đất,.... Đã từ lâu, các tập quán sản xuất, ngành nghề, giống cây trồng và nếp sống của người dân được định hình. - Do địa thế thấp, địa hình bằng phẳng, nền vật liệu vụn bở, lượng nước tập trung quá lớn trong mùa lũ và tác động của thủy triều, nên ở đồng bằng sông Cửu Long khó có thể đắp đê dọc theo các hệ thống sông, chỉ có thể đắp đê bao theo từng vùng. Thuận lợi và khó khăn do nước lũ gây ra ở đồng bằng sông Cửu Long? a. Thuận lợi: - Thau chua, rửa mặn đất đồng bằng - Bồi đắp phù sa tự nhiên, mở rộng diện tích đồng bằng. - Du lịch sinh thái trên kênh rạch và rừng ngập mặn. - Giao thông trên kênh rạch b. Khó khăn: - Gây ngập lụt trên diện rộng và kéo dài. - Phá hoại nhà cửa, vườn tược, mùa màng. - Gây ra dịch bệnh do ô nhiễm môi trường. - Làm chết người, gia súc... Để sống chung cùng lũ ở đồng bằng sông Cửu Long lâu dài, bền vững cần phải làm gì? - Chủ động, sẵn sàng vật tư, phương tiện, lương thực, thực phẩm, thuốc men trước mùa lũ. - Xây dựng cơ cấu kinh tế và nếp sống phù hợp môi trường sinh thái ngập lũ theo mùa. - Xây dựng các công trình phân lũ, thoát lũ nhanh. - Xây dựng khu tập trung dân cư an toàn có kiến trúc phù hợp (nhà nổi, làng nổi). - Phối hợp hoạt động với các nước trong Ủy ban sông Mê Công để dự báo chính xác và sử dụng hợp lí các nguồn lợi sông Mê Công. Nêu cách phòng chống lũ lụt ở đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long? Đồng bằng sông Hồng Đồng bằng sông Cửu Long - Đắp đê lớn phòng lụt - Đắp đê bao hạn chế lũ nhỏ - Tiêu lũ theo sông nhánh và ô - Tiêu lũ ra vùng biển phía tây theo các kênh trũng rạch - Bơm nước từ đồng ruộng ra sông - Làm nhà nổi, làng nổi. - Xây dựng làng tại các vùng đất cao, hạn chế tác động của lũ. Tại sao trong những năm gần đây hiện tượng ngập lụt ở đồng bằng sông Hồng hầu như không còn? Lưu ý: Cần phân tích được các nhân tố làm lũ sông Hồng lên nhanh, rút chậm. Xem xét sự thay đổi của các nhân tố ấy theo thời gian nhất là các nhân tố góp phần làm chế độ nước điều hòa hơn (hồ, lớp phủ thực vật ...) và hệ thống các công trình ngăn lũ. - Những năm gần đây ngập lụt ở đồng bằng sông Hồng hạn chế và hầu như không có là do các trình thủy điện được xây dựng trên hệ thống sông Hồng nhất là Sông Đà - Hệ thống tưới tiêu thuỷ lợi xây dựng hợp lí - Đê điều bao bọc song song các dòng sông, .... Việc xây dựng các đập thủy điện trên sông có tác động như thế nào đến kinh tế xã hội và môi trường - tự nhiên nước ta? - Tích cực: tạo năng lượng điện với giá rẻ phục vụ sản xuất và sinh hoạt, các hồ chứa sử dụng được tổng hợp tài nguyên nước (ngăn lũ, tưới ruộng, nuôi thủy sản, du lịch), giải quyết được một phần việc làm cho người lao động - Tiêu cực: giải quyết nhiều vấn đề phức tạp như việc tái định cư dân chúng sống trong vùng hồ chứa, các đập thủy điện gây phá vỡ sự cân bằng của hệ sinh thái xung quanh, ảnh hưởng đến môi trường của dòng sông bên dưới, ... Việc xây đập tại vị trí địa lý không hợp lý hoặc không đảm bảo chất lượng có thể gây ra những thảm hoạ như vỡ đập. Tìm hiểu việc sử dụng tổng hợp tài nguyên nước ở một lưu vực sông của nước ta? Hệ thống sông Mê Công là một trong hai hệ thống sông lớn nhất ở nước ta. Nguồn nước sông Mê Công có ý nghĩa lớn đối với sản xuất và đời sống do được sử dụng vào nhiều mục đích như: giao thông đường thuỷ, nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản, du lịch, cung cấp nước cho sản xuất và đời sống,... Tuy nhiên, việc sử dụng đó gặp không ít trở ngại do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, đặc biệt là những hoạt động của các quốc gia phía thượng nguồn như việc xây dựng các đập thuỷ điện đã khiến hạ nguồn sông Mê Công cạn kiệt, ô nhiễm, nguồn thuỷ sản suy giảm, đe doạ cuộc sống của hàng chục triệu người dân. Những khó khăn trêm được giải quyết nhờ sử dụng tổng hợp tài nguyên nước: -Thay đổi cơ cấu cây trồng thích ứng với tình trạng hạn, thích hợp với các loại đất khác nhau, tránh tình trạng độc canh lúa nước. -Điều tiết tối ưu các hồ chứa ở Tây Nguyên để góp phần duy trì dồng chảy ổn định vào Đồng bằng sông Cửu Long,... - Cải tạo, mở rộng hệ thống kênh, rạch vừa góp phần đảm bảo nước cho sinh hoạt và sản xuất, vừa phòng chống thiên tai.

File đính kèm:

  • pdfgiao_an_boi_duong_hsg_dia_li_8_chuyen_de_thuy_van_viet_nam_n.pdf