Đề cương ôn tập thi Ngữ văn 9 - Học kì I
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề cương ôn tập thi Ngữ văn 9 - Học kì I, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
HỌC KÌ I
1. VĂN BẢN “PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH”
ĐỀ 1: Đọc kĩ phần trích sau đây và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam và có lẽ cả thế giới, có một vị Chủ tịch
nước lấy chiếc nhà sàn nhỏ bằng gỗ bên cạnh chiếc ao làm “cung điện” của mình.
Quả như một câu chuyên thần thoại, như câu chuyện về một vị tiên, một con người
siêu phàm nào đó trong cổ tích. Chiếc nhà sàn đó cũng chỉ vẻn vẹn có vài phòng
tiếp khách, họp Bộ Chính trị, làm việc và ngủ, với những đồ đạc rất mộc mạc đơn
sơ. Và chủ nhân chiếc nhà sàn này cũng trang phục hết sức giản dị, với bộ quần áo
bà ba nâu, chiếc áo trấn thủ, đôi dép lốp thô sơ như của các chiến sĩ Trường Sơn
đã được một tác giả phương Tây ca ngợi như một vật thần kì. Hằng ngày, việc ăn
uống của Người cũng rất đạm bạc, với những món ăn dân tộc không chút cầu kì,
như cá kho, rau luộc, dưa ghém, cà muối, cháo hoa.
Câu hỏi
1. Đoạn văn trên được viết theo phương thức biểu đạt chính nào?
2. Tìm dẫn chứng cụ thể để chứng tỏ lối sống rất bình dị, rất Việt Nam, rất Phương
Đông của Hồ Chí Minh?
3. Nêu và phân tích các biện pháp nghệ thuật đã được tác giả sử dụng thành công
để làm nổi bật vẻ đẹp phong cách Hồ Chí Minh trong phần trích nói trên.
4. Từ nội dung đoạn văn gợi ra hãy nêu suy nghĩ của em về lối sống giản dị bằng
10 câu ?
Gợi ý:
1. Đoạn văn trên được viết theo phương thức biểu đạt chính: Nghị luận
2. Đoạn văn đưa ra những dẫn chứng cụ thể cho lối sống giản dị mà thanh cao của
Chủ tịch Hồ Chí Minh: cách chọn nơi làm việc; sự giản dị trong trang phục; sự
giản dị, đạm bạc trong ăn uống.
3. - Nghệ thuật đối lập (vĩ nhân mà hết sức giản dị gần gũi)
- Kết hợp giữa kể và bình luận
- Chọn lọc những chi tiết tiêu biểu
- Đan xen thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, cách dùng từ Hán Việt gợi cho người đọc thấy
sự gần gũi giữa Hồ Chí Minh với các bậc hiền triết của dân tộc.
Mỗi biện pháp nghệ thuật phải được làm rõ qua việc chọn và phân tích các dẫn
chứng tiêu biểu.
4) HS viết đoạn văn đảm bảo nội dung sau:
Giản dị là một đức tính tốt đẹp của nhân dân ta (1). Giản dị là đơn giản không xa
hoa, lãng phí, không quá cầu kỳ, phức tạp, cũng như không bao giờ khoa trương
(2). Lối sống giản dị không phải chỉ thể hiện qua lời nói, cách ăn mặc, việc làm mà
còn thể hiện qua suy nghĩ và hành động của mọi người trong cuộc sống cũng như
trong các hoàn cảnh(3). Chúng ta phải sống giản dị vì ta sẽ được mọi người yêu quý, kính trọng (4). Bác Hồ là tiêu biểu của con người giản dị. Bác ăn bữa cơm chỉ
có vài ba món(5).Sau khi ăn Bác luôn dọn sạch và khi ăn không để rơi hạt cơm nào
(6).Hiện nay đã có nhiều người biết sống giản dị, đơn giản(7).Trong đó cũng có
nhiều người vẫn chưa biết sống giản dị mà lại sống quá lãng phí, xa hoa (8). Mọi
người ơi (9). Chúng nên noi theo gương Bác phải sống thật giản dị và đơn giản
(10).
ĐỀ 2: Trong bài « phong cách Hồ Chí Minh », sau khi nhắc lại việc chủ tịch Hồ
Chí Minh đã tiếp xúc với nhiều nước, nhiều vùng trên thế giới , tác giả Lê Anh
Trà viết :
« .. Nhưng điều kì lạ là tất cả những ảnh hưởng quốc tế đó đã nhào nặn với cái
gốc văn hóa dân tộc không gì lay chuyển được ở Người, để trở thành một nhân
cách rất Việt Nam, một lối sống rất bình dị, rất Việt Nam, rất phương Đông, nhưng
cũng đồng thời rất mới, rất hiện đại”
(Trích Ngữ Văn 9, tập một, NXB Giáo dục Việt Nam,
2015)
Câu hỏi
1. ở phần trích trên, tác gỉa đã cho ta thấy vẻ đẹp của phong cách HCM được kết
hợp hài hòa bởi những yếu tố nào ? Em hiểu được điều gì về tình cảm của tác giả
dành cho Người ?
2. Xác định hai danh từ được sử dụng như tính từ trong phần trích dẫn, cho biết
hiệu quả nghệ thuật của cách dùng từ ấy ?
3. Em hãy suy nghĩ (khoảng 2/3 trang giấy thi) về trách nhiệm của thế hệ trẻ đối
với việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kì hội nhập và phát triển.
GỢI Ý :
1. Vẻ đẹp phong cách Hồ Chí Minh được kết hợp hài hòa giữa những ảnh hưởng
văn hóa Quốc tế và gốc văn hóa dân tộc.
– Qua đó tác giả Lê Anh Trà thể hiện tình cảm kính trọng, ca ngợi Bác Hồ, tự hào
về Người như một đại diện của một con người ưu tú Việt Nam.
2. Hai danh từ được sử dụng như tính từ: Việt Nam, Phương Tây. Cách dùng từ ấy
có hiệu quả nghệ thuật cao Tác giả nhấn mạnh bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam,
bản sắc Phương Đông trong con người Bác.
3. Trách nhiệm thế hệ trẻ đối với việc giữ gìn văn hóa dân tộc trong thời kỳ hội
nhập:
– Giải thích: thời kỳ hội nhập: các nền kinh tế thế giới mở cửa, hội nhập dẫn đến
sự giao lưu, ảnh hưởng văn hóa giữa các nước.
– Trách nhiệm thế hệ trẻ:
+ Gìn giữ và phát huy những bản sắc văn hóa tốt đẹp của dân tộc; + Nêu cao tinh
thần tự tôn dân tộc, niềm tự hào vễ những truyền thống văn hóa tốt đẹp: truyền thống yêu nước; Uống nước nhớ nguồn; văn hóa lễ hội truyền thống; phong tục tập
quán; di sản, di tích lịch sử,
+ Tiếp tục những ảnh hưởng tích cực từ văn hóa nước ngoài đồng thời gạn lọc
những ảnh hưởng tiêu cực từ văn hóa ngoại lai.
– Đánh giá: đây là vấn đề quan trọng đòi hỏi ý thức và nhận thức của thế hệ trẻ
cùng đồng lòng, chung tay góp sức.
2. VĂN BẢN: ĐẤU TRANH CHO MỘT THẾ GIỚI HÒA BÌNH
ĐỀ 1. Cho đoạn văn: “Chúng ta đến đây để cố gắng chống lại việc đó, đem tiếng
nói của chúng ta tham gia vào bản đồng ca của những người đòi hỏi một thế giới
không có vũ khí vì một cuộc sống hòa bình, công bằng. Nhưng dù cho tại họa có
xảy ra thì sự có mặt của chúng ta ở đây cũng không phải là vô ích”
(Ngữ văn 9, tập 1, NXB Giáo dục)
Câu hỏi
a.“Chúng ta đến đây để cố gắng chống lại việc đó” ,“việc đó” mà tác giả đề cập
đến trong đoạn trích trên là việc gì? “Việc đó” đem lại hậu quả gì cho nhân loại?
b. Vì sao tác giả khẳng định: “dù cho tại họa có xảy ra thì sự có mặt của chúng ta ở
đây cũng không phải là vô ích”?
c. Vấn đề G.Mác -két đưa ra trong “Đấu tranh cho một thế giới hòa bình” có ý
nghĩa như thế nào trong tình hình hiện nay. Viết đoạn văn ngắn trình bày ý kiến
của em.
* Gợi ý:
a. “việc đó” là nguy cơ chiến tranh hạt nhân đe dọa sự sống trên toàn trái đất.
* Hậu quả: Hiểm hoạ chung của nhân loại, huỷ duyệt sự sống trên trái đất.
b. Tác giả khẳng định: “dù cho tại họa có xảy ra thì sự có mặt của chúng ta ở đây
cũng không phải là vô ích” vì: - Bài viết trên đã chỉ ra hậu quả khủng khiếp của
chiến tranh hạt nhân; kêu gọi mọi người cùng lên án.
- Việc mọi người họp bàn, lên tiếng đưa ra lời kêu gọi chấm dứt chạy đua vũ trang,
thủ tiêu vũ khí hạt nhân sẽ góp phần tích cực để đẩy lùi nguy cơ chiến tranh hạt
nhân, mang lại hòa bình, môi trường sống an toàn cho thế giới.
C. Học sinh viết thành đoạn văn thể hiện vấn đề nêu trong bài viết có tính cấp thiết
đối với đời sống xã hội và con người hiện nay nó cũng là vấn đề đã có ý nghĩa lâu
dài chứ không phải chỉ là nhất thời, đó là nguy cơ chiến tranh hạt nhân vẫn hiện
hữu và mọi người cần đấu tranh cho một thế giới hòa bình. Cụ thể đảm bảo một số
ý chính sau : - Trong những năm qua thế giới có những đáng kể để làm giảm nguy cơ chiến
tranh hạt nhân. Chẳng hạn :
- Các hiệp ước cấm thử, cấm phổ biến vũ khí hạt nhân đã được nhiều nước kí kết,
hiệp ước cắt giảm vũ khí hạt nhân chiến lược giữa Mĩ và Liên Xô (nay là nước
Nga). Nhưng hoàn toàn không có nghĩa là nguy cơ chiến tranh hạt nhân đã không
còn hoặc lùi xa.
- Kho vũ khí hạt nhân vẫn tồn tại và ngày càng được cải tiến.
- Chiến tranh và xung đột vẫn liên tục nổ ra nhiều nơi trên thế giới .Vì vậy thông
điệp của G.Mác -két vẫn còn nguyên giá trị, vẫn tiếp tục thức tỉnh và kêu gọi mọi
người đấu tranh cho một thế giới hòa bình.
ĐỀ 2. Đọc đoạn trích sau:
“Năm 1981.UNICEF đã định ra một chương trình để giải quyết những vấn đề cấp
bách cho 500 triệu trẻ em nghèo khổ nhất thế giới. Chương trình này dự kiến cứu
trợ về y tế, giáo dục sơ cấp, cải thiện điều kiện vệ sinh và tiếp tế thực phẩm, nước
uống. Nhưng tất cả đã tỏ ra là một giấc mơ không thể thực hiện được vì tốn kém
100 tỉ đô la. Tuy nhiên số tiền này cũng chỉ gần bằng những chi phí bỏ ra cho 100
máy bay ném bom chiến lược B.1B của Mĩ và cho dưới 7000 tên lửa vượt đại
châu”.
Câu hỏi
Trong văn bản, tác giả đã đưa ra những con số cụ thể trong một phép so sánh, ấn
tượng. Phép so sánh ấy là gì? Qua phép so sánh ấy em cảm nhận được điều gì?
* Gợi ý:
- Phép so sánh: Tuy nhiên số tiền này cũng chỉ gần bằng những chi phí bỏ ra cho
100 máy bay ném bom chiến lược B.1B của Mĩ và cho dưới 7000 tên lửa vượt đại
châu.
- Tác dụng: Sự tốn kém của việc chạy đua chiến tranh hạt nhân.
ĐỀ 3. Đọc đoạn văn sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới.
“Tôi rất khiêm tốn nhưng cũng rất kiên quyết đề nghị mở ra một nhà băng lưu trữ
trí nhớ có thể tồn tại được sau thảm họa hạt nhân. Để cho nhân loại tương lai biết
rằng sự sống đã từng tồn tại ở đây, bị chi phối bởi đau khổ và bất công nhưng
cũng đã từng biết đến tình yêu và biết hình dung ra hạnh phúc. Để cho nhân loại
tương lai hiểu điều đó và làm sao cho ở mọi thời đại, người ta đều biết đến tên thủ
phạm đã gây ra những lo sợ, đau khổ cho chúng ta, đã giả điếc làm ngơ trước
nhũng lời khẩn cầu hòa bình, những lời kêu gọi làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn, để mọi người biết rằng bằng
những phát minh dã man nào, nhân danh những ti tiện nào, cuộc sống đó đã bị xóa
bỏ khỏi vũ trụ này ”.
(“Đấu tranh cho một thế giới hòa bình” – G.G. Mác- két).
Câu hỏi
a. G.G. Mác- két đã lên án điều gì trong văn bản “Đấu tranh cho một thế giới hòa
bình”?
b. Gạch chân dưới các trạng ngữ trong đoạn văn trên.Việc tách các trạng ngữ thành
câu riêng trong đoạn văn có tác dụng gì?
c. Lấy chủ đề “Khát vọng hòa bình”, em hãy triển khai thành một đoạn văn diễn
dịch dài khoảng 10 đến 12 câu.
* GỢI Ý:
a. Mác – két lên án việc các nước chạy đua vũ trang và sản xuất vũ khí hạt nhân.
b. Gạch chân dưới các trạng ngữ : Để cho nhân loại tương lai biết rằng sự sống đã
từng tồn tại ở đây, bị chi phối bởi đau khổ và bất công nhưng cũng đã từng biết đến
tình yêu và biết hình dung ra hạnh phúc. Để cho nhân loại tương lai hiểu điều đó và
làm sao cho ở mọi thời đại, người ta đều biết đến tên thủ phạm đã gây ra những lo
sợ, đau khổ cho chúng ta, đã giả điếc làm ngơ trước nhũng lời khẩn cầu hòa bình,
những lời kêu gọi làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn, để mọi người biết rằng bằng
những phát minh dã man nào, nhân danh những ti tiện nào, cuộc sống đó đã bị xóa
bỏ khỏi vũ trụ này.
- Việc tách các trạng ngữ thành câu riêng để nhấn mạnh mục đích của đề xuất mở
nhà băng lưu trữ trí nhớ có thể tồn tại sau thảm họa hạt nhân; Tăng sức lên án, tố
cáo chạy đua vũ trang, sản xuất và sử dụng vũ khí hạt nhân.
c- Giải thích: Hòa bình là sự bình an vui vẻ, không có chiến tranh, xung đột hay đổ
máu. Khát vọng hòa bình là mong muốn vươn tới cuộc sống vui vẻ, an lành, được
tôn trọng bình đẳng, tự do và hạnh phúc.
- Bàn luận:
+ Khát vọng hòa bình là biểu tượng của sự bình yên, là khát vọng chung của mỗi
người và của toàn nhân loại.
+ Hòa bình giúp mỗi người biết yêu thương nhau, giúp mỗi dân tộc có cuộc sống
vui vẻ, hạnh phúc bền lâu.
+ Hòa bình tạo sự hiểu biết lẫn nhau, tránh gây mâu thuẫn căng thẳng; là điều kiện
để hợp tác và phát triển
+ Trái với khát vọng hòa bình là những toan tính ích kỉ hẹp hòi, những hành động
chạy đua vũ trang, gây đổ máu và chiến tranh, chúng ta cần quyết liệt lên án những
hành vi đó.
+ Dân tộc ta đã phải trải qua bao nhiêu đau thương mất mát trong chiến tranh
chống
giặc ngoại xâm để bảo vệ hòa bình nên hiểu rất rõ giá trị, tầm quan trọng của khát vọng hòa bình.
- Phê phán: Phê phán những hành vi gây chiến tranh, ảnh hưởng đến cuộc sống
bình yên của mỗi người mỗi dân tộc.
- Bài học nhận thức và hành động:
+ Cần biết trân trọng, giữ gìn và thể hiện khát vọng hòa bình ở mọi lúc, mọi nơi;
biết sống thân thiện, chan hòa nhân ái với những người xung quanh.
+ Là học sinh, cần ra sức học tập, nâng cao hiểu biết, giải quyết xung đột bằng sự
lắng nghe, thấu hiểu, đối thoại chân tình thẳng thắn.. tích cực tham gia vào các hoạt
động đấu tranh vì hòa bình và công lý
ĐỀ 4: Một văn bản trong chương trình Ngữ văn 9 có viết:
“Trong thời đại hoàng kim này của khoa học , trí tuệ con người chẳng có gì để tự
hào vì đã phát minh ra một biện pháp , chỉ cần bấm nút một cái là đưa cả quá
trình vĩ đại và tốn kém đó của hàng bao nhiêu triệu năm trở lại điểm xuất phát
của nó”. (Ngữ văn 9 – tập 1)
Câu hỏi
1. Câu văn trên trích từ văn bản nào? Tác giả là ai?
2.“Một biện pháp” mà tác giả đề cập đến trong câu văn trên là việc gì?
3. Tại sao tác giả lại cho rằng: “trí tuệ con người chẳng có gì để tự hào vì đã phát
minh ra một biện pháp”ấy? Em hiểu thế nào về thái độ của tác giả về sự việc
trên?
4. Đất nước chúng ta đã trải qua những năm tháng chiến tranh đầy khốc liệt và
đau thương. Ngày nay, chiến tranh đã đi qua, thế hệ thanh niên đang được sống
trong hòa bình. Bằng hiểu biết về văn bản trên và kiến thức xã hội, em hãy viết
một đoạn văn ngắn trình bày về ý nghĩa của cuộc sống hòa bình.
GỢI Ý:
1. Câu văn trên trích từ văn bản “Đấu tranh cho một thế giới hòa bình” Tác giả là
G. Mác-két.
2.“Một biện pháp” mà tác giả đề cập đến trong câu văn trên là chiến tranh hạt
nhân.
3.Tác giả lại cho rằng: “trí tuệ con người chẳng có gì để tự hào vì đã phát minh
ra một biện phá” ấy vì biện pháp hạt nhân mà con người phát minh ra là hiểm
họa khôn lường và nó ảnh hưởng, đe dọa trực tiếp tới cuộc sống hòa bình của
toàn thế giới.
Tác giả thế hiện thái độ phản đối gay gắt đối với vấn đề này.
4. + Giải thích khái niệm “hòa bình”: là sự bình đẳng, tự do, không có bạo động,
không có chiến tranh và những xung đột về quân sự.
+ Ý nghĩa của cuộc sống hòa bình:
• Để dành được hòa bình, thế hệ cha anh đi trước – các anh hùng thương binh liệt sĩ
đã chiến đấu hết mình, hi sinh xương máu. • Trạng thái đối lập của hòa bình là chiến tranh. Sống trong chiến tranh, con người
sẽ đối diện với những thảm họa về mất mát, đau thương.
• Sống trong hòa bình, con người sẽ được tận hưởng không khí của độc lập, tự do,
yên bình và hạnh phúc.
+ Lật lại vấn đề:
Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một số tín đồ, đảng phái luôn sử dụng những chiêu trò
công kích, kích thích, chống phá, gây ra bạo lực vũ trang,
+ Bài học nhận thức và hành động:
• Nâng cao nhận thức về ý nghĩa của hòa bình.
• Cần tránh xa những thế lực gây ảnh hưởng đến nền hòa bình, đồng thời giữ gìn,
bảo vệ hòa bình.
ĐỀ 5 : Em hãy đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu nêu ở dưới:
Chúng ta đang ở đâu? Hôm nay ngày 8 – 8 – 1986, hơn 50 000 đầu đạn hạt nhân
đã được bố trí trên khắp hành tinh. Nói nôm na ra, điều đó có nghĩa là mỗi người,
không trừ trẻ con, đang ngồi trên một thùng 4 tấn thuốc nổ: tất cả chỗ đó nổ tung
lên sẽ làm biến hết thảy, không phải một lần mà là mười hai lần, mọi dấu vết của
sự sống trên trái đất. Nguy cơ ghê gớm đó đang đè nặng lên chúng ta như thanh
gươm Đa-mô-clét (1), về lý thuyết có thể tiêu diệt tất cả các hành tinh đang xoay
quanh mặt trời, cộng thêm bốn hành tinh nữa, và phá hủy thế thăng bằng của hệ
mặt trời. Không có một ngành khoa học hay công nghiệp nào có được những tiến
bộ nhanh ghê gớm như ngành công nghiệp hạt nhân kể từ khi nó ra đời cách đây
41 năm, không có một đứa con nào của tài năng con người lại có một tầm quan
trọng quyết định đến như vậy đối với vận mệnh thế giới.( )
(Theo Ngữ văn 9, tập 1, NXB Giáo dục Việt Nam, 2016, tr.17)
Câu 1. Theo tác giả, ngành công nghiệp nào có tầm quan trọng quyết định đến vận
mệnh thế giới?
Câu 2. Hình ảnh thanh gươm Đa-mô-clét có ý nghĩa gì?
Câu 3. Em có nhận xét gì về cách viết của tác giả trong đoạn văn trên?
Câu 4. Lấy chủ đề “KHÁT VỌNG HÒA BÌNH”, em hãy triển khai thành một
đoạn văn diễn dịch dài khoảng 10 đến 12 câu.
GỢI Ý :
1- Ngành công nghiệp có tầm quan trọng quyết định đến vận mệnh thế giới là
ngành công nghiệp hạt nhân.
2- Hình ảnh thanh gươm Đa-mô-clét có ý nghĩa chỉ mối nguy cơ chiến tranh hạt
nhân đe dọa trực tiếp sự sống của con người. (Hs có thể có cách diễn đạt khác,
hiểu đúng ý vẫn cho điểm)
3.Nhận xét gì về cách viết của tác giả: +Cách lập luận chặt chẽ, lí lẽ thuyết phục, dẫn chứng xác thực.
+Thái độ và giọng điệu của tác giả mạnh mẽ dứt khoát, nhấn mạnh nguy cơ
chiến tranh hạt nhân đang hiện hữu.
+Sử dụng hình ảnh so sánh, kết hợp với điển tích để nêu bật tính chất nguy hiểm
của vấn đề được đề cập.
+Cách sử dụng câu hỏi tu từ kết hợp với mốc thời gian và số liệu tính toán phân
tích cụ thể để bộc lộ sự trăn trở, lo ngại về mối nguy hiểm của chiến tranh hạt
nhân đối với sự sống trên trái đất.
4.Về kĩ năng:
- Biết viết đoạn văn nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lý lối sống theo đúng
hình thức diễn dịch (câu chủ đề đặt ở đầu đoạn văn, các câu còn lại có chức năng
làm sáng tỏ cho chủ đề đó). Độ dài khoảng 10 đến 12 câu.
- Lập luận chặt chẽ, thuyết phục; diễn đạt lưu loát, không mắc lỗi chính tả.
. Về nội dung:
- Giải thích: Hòa bình là sự bình an vui vẻ, không có chiến tranh, xung đột hay
đổ máu. Khát vọng hòa bình là mong muốn vươn tới cuộc sống vui vẻ, an lành,
được tôn trọng bình đẳng, tự do và hạnh phúc, phát triển.
- Bàn luận:
+ Khát vọng hòa bình là biểu tượng của sự bình yên, là khát vọng chính đáng
chung của mỗi người và của toàn nhân loại.
+ Hòa bình giúp mỗi người biết yêu thương nhau, giúp mỗi dân tộc có cuộc sống
vui vẻ, hạnh phúc bền lâu.
+ Hòa bình tạo sự hiểu biết lẫn nhau, tránh gây mâu thuẫn căng thẳng; là điều
kiện để hợp tác và phát triển
+ Trái với khát vọng hòa bình là những toan tính ích kỉ hẹp hòi, những hành
động chạy đua vũ trang, gây đổ máu và chiến tranh, chúng ta cần quyết liệt lên
án những hành vi đó.
+ Dân tộc ta đã phải trải qua bao nhiêu đau thương mất mát trong chiến tranh
chống giặc ngoại xâm để bảo vệ hòa bình nên hiểu rất rõ giá trị, tầm quan trọng
của khát vọng hòa bình.
- Bài học nhận thức và hành động:
+ Cần biết trân trọng, giữ gìn và thể hiện khát vọng hòa bình ở mọi lúc, mọi nơi;
sống thân thiện, chan hòa nhân ái với những người xung quanh.
+ Tố cáo những hành vi gây chiến tranh, ảnh hưởng đến cuộc sống bình yên của
mỗi người mỗi dân tộc.
+Là học sinh, cần ra sức học tập, nâng cao hiểu biết, giải quyết xung đột bằng sự
lắng nghe, thấu hiểu, đối thoại chân tình thẳng thắn.. tích cực tham gia vào các
hoạt động đấu tranh vì hòa bình và công lý 3. VĂN BẢN: TUYÊN BỐ THẾ GIỚI VỀ SỰ SỐNG CÒN, QUYỀN ĐƯỢC
BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TRẺ EM
ĐỀ 1. Cho đoạn trích:
“Tất cả trẻ em trên thế giới đều trong trắng, dễ bị tổn thương và còn phụ thuộc.
Đồng thời chúng hiểu biết, ham hoạt động và đầy ước vọng. Tuổi chúng phải được
sống trong vui tươi, thanh bình, được chơi, được học và phát triển. Tương lai của
chúng phải được hình thành trong sự hòa hợp và tương trợ. Chúng phải được
trưởng thành khi được mở rông tầm nhìn, thu nhận thêm những kinh nghiệm mới.”
(Ngữ văn 9, tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2016)
Câu hỏi
a. Xét về mục đích nói, những câu “Tuổi chúng phải được sống trong vui tươi,
thanh bình, được chơi, được học và phát triển. Tương lai của chúng phải được
hình thành trong sự hòa hợp và tương trợ. Chúng phải được trưởng thành khi
được mở rông tầm nhìn, thu nhận thêm những kinh nghiệm mới.” thuộc kiểu câu
gì?
Nêu tác dụng của kiểu câu đó trong việc thể hiện nội dung đoạn văn?
b. Chỉ ra biện pháp tu từ có trong đoạn trích trên? Nêu tác dụng của biện pháp tu từ
đó?
c. Từ chúng trong đoạn văn trên dùng để chỉ ai? Tại sao tương lai của chúng phải
được hình thành trong sự hòa hợp và tương trợ?
d. “Tất cả trẻ em trên thế giới đều trong trắng, dễ bị tổn thương và còn phụ thuộc”.
Vậy trong thực tế hiện nay, trẻ em đang đứng trước những nguy cơ nào?
e. Em có nhận thức như thế nào về tầm quan trọng của vấn đề bảo vệ, chăm sóc trẻ
em, về sự quan tâm của cộng đồng quốc tế về vấn đề này?
* Gợi ý:
a. Câu cầu khiến.
b. Biện pháp tu từ: Lặp lại cấu trúc câu
- T/d: Tạo giọng điệu mạnh mẽ, dứt khoát.
+ Nhấn mạnh những quyền mà trẻ em được hưởng, khẳng định trẻ em cần được
bảo vệ và phát triển.
c. Từ chúng dùng để chỉ Tất cả trẻ em trên thế giới
- Nghĩa là: chúng phải được sống trong môi trường hòa bình, luôn có sự tương trợ,
giúp đỡ lan nhau trên mọi lĩnh vực; không có hiềm khích, không có chiến tranh.
Đó là điều kiện tốt để cho trẻ em phát triển cả về thể chất và tâm hồn.
d. Nguy cơ: đói nghèo, mù chữ, bị bạo hành gia đình, xâm hại, bóc lột.
e- Bảo vệ quyền lợi, chăm lo đến sự phát triển của trẻ em là một trong những
nhiệm vụ có ý nghĩa quan trọng hàng đầu của từng quốc gia và của cộng đồng
quốc tế. Đây là vấn đề liên quan trực tiếp đến tương lai của một đất nước của toàn
nhân loại. - Qua những chủ trương, chính sách, qua những hành động cụ thể đối với việc bảo
vệ, chăm sóc trẻ em mà ta nhận ra trình độ văn minh của một xã hội.
- Vấn đề bảo vệ, chăm sóc trẻ em đang được cộng đồng quốc tế dành sự quan tâm
thích đáng với các chủ trương, nhiệm vụ đề ra có tính cụ thể toàn diện.
ĐỀ 2. Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:
“Hàng ngày có vô số trẻ em trên thế giới bị phó mặc cho những hiểm họa làm kìm
hãm sự tăng trưởng và phát triển của các cháu đó. Chúng phải chịu bao nhiêu nỗi
bất hạnh do bị trở thành nạn nhân của chiến tranh và bạo lực, của nạn phân biệt
chủng tộc, chế độ a- pác- thai, của sự xâm lược, chiếm đóng và thôn tính của nước
ngoài ..môi trường xuống cấp”.
(Trích Tuyên bố ..trẻ em, Ngữ văn 9, tập một, NXB Giáo dục)
Câu hỏi
a. Nội dung chính của đoạn trích trên là gì? Thái độ của tác giả được thể hiện trong
đoạn trích như thế nào?
b. Chỉ ra và phân tích hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ được sử dụng trong
câu văn: “Chúng phải chịu bao nhiêu nỗi bất hạnh do bị trở thành nạn nhân của
chiến tranh và bạo lực, của nạn phân biệt chủng tộc, chế độ a- pác- thai, của sự
xâm lược, chiếm đóng và thôn tính của nước ngoài.”
c.Tại sao vấn đề chăm sóc, bảo vệ trẻ em ngày càng trở nên cấp bách, được cộng
đồng quốc tế quan tâm đến thế ? Đọc phần Sự thách thức của Bản tuyên bố em
hiểu như thế nào về tình trạng khổ cực của nhiều trẻ em trên thế giới hiện nay ?
* Gợi ý:
a. - Nội dung: Nêu ra những nguy cơ, thách thức đối với trẻ em.
- Thái độ: Lên án, tố cáo, xót thương
b. - Biện pháp: Liệt kê.
- T/d: Kể ra những nguy cơ mà trẻ em phải hứng chịu
c. Giải thích tính cấp bách của vấn đề này xuất phát từ :
- Vai trò của trẻ em đối với tương lai của một dân tộc, đối với toàn nhân loại.
- Thực trạng cuộc sống của trẻ em trên thế giới hiện nay :
+ Bị trở thành nạn nhân của chiến tranh, và bạo lực, của nạn phân biệt chủng tộc,
chế độ A-pác-thai, của sự xâm lược, chiếm đóng và thôn tính của nước ngoài.
+ Chịu đựng những thảm hoạ của đói nghèo, khủng hoảng kinh tế, của tình trạng
vô gia cư, dịch bệnh mù chữ, môi trường xuống cấp. + Chết do suy dinh dưỡng và bệnh tật.
ĐỀ 3. Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi:
“Cần tạo cho trẻ em cơ hội tìm biết được nguồn gốc lai lịch của mình và nhận
thức được giá trị của bản thân trong một môi trường mà các em cảm thấy là nơi
nương tựa an toàn, thông qua gia đình hoặc những người khác trông nom các em
tạo ra. Phải chuẩn bị để các em có thể sống một cuộc sống có trách nhiệm trong
một xã hội tự do. Cần khuyến khích trẻ em ngay từ lúc còn nhỏ tham gia vào sinh
hoạt
văn hóa xã hội”.
Câu hỏi
a. Xét theo mục đích nói, các câu trong đoạn văn trên thuộc kiểu câu gì? Tác dụng
của kiểu câu đó trong việc biểu đạt nội dung của đoạn văn trên?
b. Theo em, việc nhận thức được giá trị của bản thân có ý nghĩa quan trọng như
thế nào đối với trẻ em? Tại sao ngay từ lúc còn nhỏ, trẻ em cần tham gia vào sinh
hoạt văn hóa xã hội ?
* Gợi ý:
a.- Câu cầu khiến.
- T/d: Nhấn mạnh nhiệm vụ cấp bách mà các nước cần phải nỗ lực hành động vì
quyền trẻ em.
b.- Ý nghĩa: Để phát huy cái mạnh, khắc phục cái yếu của bản thân.
- Ngay từ lúc còn nhỏ, trẻ em cần tham gia vào sinh hoạt văn hóa xã hội, để: trẻ em
có cơ hội phát triển toàn diện, được học hỏi và giao lưu với bạn bè, được rèn luyện
bản thân về kỹ năng sống.
4. CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG
ĐỀ 1: Đọc đoạn trích sau rồi trả lời câu hỏi:
Nàng bất đắc dĩ nói:
- Thiếp sở dĩ nương tựa vào chàng vì có cái thú vui nghi gia nghi thất. Nay đã bình
rơi trâm gãy, mây tạnh mưa tan, sen rũ trong ao, liễu tàn trước gió; khóc tuyết
bông hoa rụng cuống, kêu xuân cát én lìa đàn, nước thấm buồm xa, đâu còn có
thể lại lên núi Vọng Phu kia nữa.
(Ngữ văn 9, Tập một, NXB GDVN, 2015, trang 45)
Câu hỏi
1/ Đoạn văn trên được trích từ văn bản nào? Ai là tác giả?
2/ Chỉ ra cặp đại tự xưng hô trong đoạn văn trên.
3/ Cụm từ “nghi gia nghi thất” có nghĩa là gì?
4/ Ghi lại một thành ngữ có trong đoạn trích trên? 5/ Nêu và phân tích tác dụng của một phép tu từ được sử dụng trong đoạn trích
trên?
6/ Nêu hàm ý của câu văn: Nay đã bình rơi trâm gãy, mây tạnh mưa tan, sen rũ
trong ao, liễu tàn trước gió; khóc tuyết bông hoa rụng cuống, kêu xuân cát én lìa
đàn, nước thấm buồm xa, đâu còn có thể lại lên núi Vọng Phu kia nữa.
7/ Viết 01 đoạn văn diễn dịch (khoảng 12 câu) có sử dụng câu ghép và phép thế thể
hiện cảm nhận của em về nhân vật chính trong đoạn trích trên (gạch dưới câu ghép
và phép thế).
File đính kèm:
de_cuong_on_tap_thi_ngu_van_9_hoc_ki_i.docx



