Đề cương ôn tập thi Ngữ văn 9 - Bài: Sang thu
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề cương ôn tập thi Ngữ văn 9 - Bài: Sang thu, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
SANG THU – HỮU THỈNH
ĐỀ 1. Cảm nhận của em về bài thơ “Sang thu” của Hữu Thỉnh:
Bỗng nhận ra hương ổi
Trên hàng cây đứng tuổi.
( Ngữ văn 9, tập 2)
A.Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận
Tham khảo
Mùa thu luôn là đề tài, là cảm hứng quen thuộc lâu đời của thơ ca.Trong kho tàng
văn học dân tộc ta đã từng biết đến một mùa thu trong veo trong thơ Nguyễn Khuyến, thu
ngơ ngác trong thơ Lưu Trọng Lư, dào dạt và đượm buồn trong thơ Xuân Diệu.Và thật
bất ngờ khi ta gặp một Hữu Thỉnh tinh tế, sâu sắc đến vô cùng qua một thoáng “Sang
thu”.
B.Thân bài
1.Khái quát về tác phẩm
- Bài thơ “Sang thu” của Hữu Thỉnh được sáng tác năm 1977- 2 năm sau ngày đất
nước giành được độc lập. Bài thơ đã ghi lại những cảm nhận tinh tế của nhà thơ trong
thời khắc giao mùa đồng thời bộc lộ những chiêm nghiệm, những suy ngẫm về con
người, về cuộc đời vốn đầy dẫy những khó khăn thử thách. Bài thơ hấp dấn người đọc
bởi những vần thơ nhẹ nhàng và những hình ảnh thơ đẹp, giàu ý nghĩa.
2.Cảm nhận bài thơ
2,1. Những tín hiệu giao mùa:
Mở đầu bài thơ, tác giả đã miêu tả những tín hiệu đầu tiên của thời khắc giao mùa. Với
Hữu Thỉnh mùa thu bắt đầu thật giản dị:
Bỗng nhận ra hương ổi
Phả vào trong gió se
Thu của Hữu Thỉnh được bắt đầu bằng một mùi hương quen thuộc phảng phất trong “gió
se”. Đó là “hương ổi” – mùi hương đặc sản của dân tộc, mùi hương riêng của mùa thu
làng quê ở vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam. Nếu như trong thơ ca cổ điển mùa thu
thường hiện ra qua các hình ảnh ước lệ như “ngô đồng”, “rặng liễu”, “lá vàng mơ phai”,
“hoa cúc” thì với Hữu Thỉnh ông lại bắt đầu bằng “hương ổi”. Đó là một hỉnh ảnh, một
tứ thơ khá mới mẻ với thơ ca viết về mùa thu nhưng lại vô cùng quen thuộc và gần gũi
đối với mỗi người dân Việt Nam, đặc biệt là người dân miền Bắc mỗi độ thu về. Nhận ra
trong gió có hương ổi là cảm nhận tinh tế của một người sống giữa đồng quê và nhà thơ
đã đem đến cho ta một tín hiệu mùa thu dân dã mà thi vị. Ông đã phát hiện một nét đẹp
đáng yêu của mùa thu vàng nông thôn vùng đồng bằng Bắc Bộ. Mùi hương ấy không
hòa vào quyện vào mà “phả” vào trong gió. “Phả” nghĩa là bốc mạnh và tỏa ra từng
luồng. Hữu Thỉnh đã không tả mà chỉ gợi, đem đến cho người đọc một sự liên tưởng thú
vị: tại vườn tược quê nhà, những quả ổi chín vàng trên các cành cây kẽ lá tỏa ra hương
thơm nức, thoang thoảng trong gió. Chỉ một chữ “phả” thôi cũng đủ gợi hương thơm như
sánh lại. Sánh lại bởi hương đậm một phần, sánh bởi tại gió se. “Hương ổi” gắn liền với bao kỉ niệm của thời thơ ấu, là mùi vị của quê hương đã thấm đẫm trong tâm tưởng nhà
thơ và cứ mỗi độ thu về thì nó lại trở thành tác nhân gợi nhớ.”. Không chỉ có hương ổi,
cái khoảnh khắc thu sang còn báo hiệu bằng một tín hiệu rất đặc trưng: Gió se. Gió se là
cái gió se lạnh. Không oi nồng như cái gió của mùa hè cũng không rét cắt da cắt thịt như
cái gió bấc của mùa đông. Gió se chỉ hơi lạnh nhưng cũng đủ để người ta cảm nhận được,
đủ để làm cho trời thu, khí thu thêm mát mẻ. Gió se đến tức là thu đã về. Nó chính là sứ
giả của mùa thu giống như chim én là sứ giả của mùa xuân vậy.
Nếu hai câu đầu diễn tả cái cảm giác chưa hẳn đủ tin thì đến hình ảnh
“Sương chùng chình qua ngõ” lời thơ lại càng lung linh huyền ảo. Không phải là màn
sương dày đặc, mịt mù như trong câu ca dao quen thuộc miêu tả cảnh Hồ Tây lúc ban mai
“Mịt mù khói tỏa ngàn sương”, hay như nhà thơ Quang Dũng đã viết trong bài thơ “Tây
Tiến”: “Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi” mà là “Sương chùng chình qua ngõ”. HÌnh
ảnh “sương chùng chình qua ngõ” gợi ra những làn sương mỏng manh, mềm mại, giăng
mắc màn khắp đường thôn ngõ xóm làng quê. Nó làm cho khí thu thêm mát mẻ và cảnh
thu thêm thơ mộng, huyền ảo, thong thả, bình yên. Nhà thơ đã nhân hóa màn sương qua
từ láy “chùng chình”. Phép tu từ ấy khiến cho sương thu như chứa đầy tâm trạng. Nó
như đang chờ đợi ai hay lưu luyến điều gì? Bằng tất cả các giác quan: khứu giác, xúc
giác và thị giác, nhà thơ cảm nhận những nét đặc trưng của mùa thu đều đã hiện diện. Có
“hươngổi”, “gió se” và sương thu. Mùa thu đã về trên quê hương. Vậy mà nhà thơ vẫn
còn dè dặt: “Hình như thu đã về”. Sao lại là “Hình như” chứ không phải là “chắc chắn”?
Một chút nghi hoặc, một chút bâng khuâng không thật rõ ràng. Phải chăng thu đến nhẹ
nhàng quá và bình yên quá nên nhà thơ – một con người đã từng trải qua biết bao mùa
thu trong bom đạn của chiến tranh không thể tin đó là sự thật. Câu thơ như một tiếng reo
vui của Hữu Thỉnh khi mùa thu đã về.
2.2. Bức tranh thiênnhiên lúc giao mùa
- Sau giây phút ngỡ ngàng và khe khẽ vui mừng, cảm xúc của thi sĩ tiếp tục lan tỏa, mở ra
trong cái nhìn xa hơn, rộng hơn:
Sông được lúc dềnhdàng
Chim bắt đầu vội vã
Có đám mây mùa hạ
Vắt nửa mình sang thu
Bằng phép nhân hóa đặc sắc, nhà thơ đã rất tài hoa ghi lại linh hồn của cảnh vật, của
dòng sông quê hương nơi vùng đồng bằng Bắc Bộ ăm ắp nước phù sa, vươn mình giữa
ruộng đồng vào những ngày giao mùa. Vào mùa thu, nước sông êm đềm, nhẹ nhàng, trôi
lững lờ mà không chảy xiết như những ngày mùa hạ. Cái “dềnh dàng” của dòng sông
không chỉ gợi ra vẻ êm dịu của bức tranh thiên nhiên mùa thu mà còn mang đầy tâm
trạng của con người như chậm lại, như trễ nải, như ngẫm ngợi nghĩ suy về những trải
nghiệm trong cuộc đời. Trái ngược với vẻ khoan thai của dòng sông là sự vội vàng của
những cánh chim trời bắt đầu di trú về phương Nam. Không gian trở nên xôn xao, không
có âm thanh nhưng câu thơ lại gợi được cái động. Hai câu thơ đối nhau rất nhịp nhàng,
dựng lên hai hình ảnh đối lập, ngược chiều nhau: sông dưới mặt đất, chim trên bầu trời,
sông “dềnh dàng” chậm rãi, chim “vội vã” lo lắng. Đó là sự khác biệt của vạn vật trên cao và dưới thấp trong khoảnh khắc giao mùa. Ý thơ đồng thời còn gợi cho người đọc
một liên tưởng khác: Sự chuyển động của dòng sông, của cánh chim phải chăng còn là sự
chuyển mình của đất nước. Cả đất nước ta vừa trải qua chiến tranh tàn khốc mới có được
hòa bình, và giờ đây mới được sống một cuộc sống yên bình, êm ả. Nhưng rồi mỗi người
dân Việt Nam cũng lại bắt đầu hối hả nhịp sống mới để xây dựng đất nước trong niềm vui
rộn ràng
- Theo cánh chim trời đang bay về phương Nam để tránh rét, Hữu Thỉnh bắt gặp một đám
mây mà ông gọi đó là “đám mây mùa hạ”:
Có đám mây mùa hạ
Vắt nửa mình sang thu.
Trong thơ ca Việt Nam, không ít những vần thơ nói về đám mây trên bầu trời thu. Nhà
thơ Huy Cận trong bài thơ “Tràng giang” đã từng viết:
“Lớp lớp mây cao đùn núi bạc
Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa”
Miêu tả hình ảnh đám mây, Hữu Thỉnh dùng động từ “vắt” để gợi ra trong thời điểm
giao mùa, đám mây như kéo dài ra, nhẹ trôi như tấm lụa mềm treo lơ lửng giữa bầu trời
trong xanh, cao rộng. Hình như đám mây đó vẫn còn lại một vài tia nắng ấm của mùa hạ
nên mới “Vắt nửa mình sang thu”. Đám mây vắt lên cái ranh giới mỏng manh và ngày
càng bé dần, bé dần đi rồi đến một lúc nào đó không còn nữa để toàn bộ sự sống, để cả
đám mây mùa hạ hoàn toàn thuộc về mùa thu. Trong thực tế không hề có đám mây nào là
mây mùa hạ cũng chẳng có đám mây nào là mây của mùa thu. Đó chỉ là một sự liên
tưởng thú vị của một nhà thơ có tâm hồn tinh tế. Có lẽ đây là hai câu thơ hay nhất trong
sự tìm tòi khám phá của Hữu Thỉnh trong khoảnh khắc giao mùa. Nó giống như một bức
tranh thu vĩnh hằng tạc bằng ngôn ngữ. Dòng sông, cánh chim, đám mây đều được nhân
hóa khiến cho bức tranh thu trở nên hữu tình, chứa chan thi vị. Cả ba hình ảnh trên là tín
hiệu của mùa thu sang còn vương lại một chút gì của cuối hạ. Nó giống như cái tâm trạng
của Hữu Thỉnh lúc này. Đó là cái cảm giác luyến tiếc những năm tháng tuổi trẻ - những
năm tháng đầy sục sôi nhiệt huyết đã qua đi không bao giờ trở lại. Và qua những câu thơ
ấy, ta thấy Hữu Thỉnh là nhà thơ có một hồn thơ nhạy cảm, yêu thiên nhiên tha thiết, một
trí tưởng tượng phong phú vô cùng.
2,3. Những suy tư,chiêm nghiệm của nhà thơ:
Nếu ở hai khổ thơ đầu của bài thơ, dấu hiệu mùa thu đã khá rõ ràng trong không
gian và thời gian,sang khổ cuối vẫn theo dòng cảm xúc ấy, tác giả bộc lộ suy ngẫm của
mình về con người, về cuộc đời:
Vẫn còn bao nhiêu nắng
Đẵ vơi dần cơn mưa
Sấm cũng bớt bất ngờ
Trên hàng cây đứngtuổi”.
Thu sang nắng vẫn còn vàng tươi nhưng không còn chói chang, gay gắt. Thu sang, mưa
cũng vẫn còn nhưng đã vơi nhiều so với những cơn mưa bong bóng kéo dài của mùa hè.
ĐÓ chính là dấu hiệu của sự chuyển mùa. Hai chữ “bao nhiêu” thường gợi cho ta liên
tưởng đến một cái gì đó có thể đong đếm được. Nhưng nắng thì làm sao có thể đong đo?
Cũng như “vơi”, dù biết vơi bớt nhưng vơi bớt đến mức nào thì thật khó xác định? Nhg dù không xác định được ta vẫn biết mưa đã ít dần. Nghệ thuật khác khoa học ở chỗ ấy.
Không chính xác, không cụ thể nhưng vẫn có thể giúp người đọc hình dung ra.
Và bài thơ được kết thúc bằng hai câu thơ mang đậm tính chất triết lí.
Sấm cũng bớt bất ngờ
Trên hàng cây đứngtuổi”.
Cuối hạ - đầu thu, những cơn mưa xối xả đã vơi dần thì sấm cũng bớt bất ngờ và dữ dội.
Nó không còn đột ngột, đùng đoàng rền vang cùngvới những tia sáng chớp lòe như xé
rách bầu trời trong những trận mưa báo tháng 6 tháng 7 nữa. Và nó cũng ko còn đủ sức
làm lay động những hàng cây đã bao mùa thay lá. Cảnh vật, thời tiết thay đổi. Tất cả vẫn
còn nhiều dấu hiệu của mùa hè nhưng giảm dần mức độ, cường độ, để rồi lặng lẽ vào thu
qua con mắt quan sát và cảm nhận tinh tế của nhà thơ. Tuy nhiên hai câu kết của bài thơ
không chỉ mang nghĩa tả thực, mà còn mang ý nghĩa ẩn dụ và gợi nhiều suy nghĩ cho
người đọc. “Sấm” là những vang động bất thường của ngoại cảnh, của cuộc đời còn
“Hàng cây đứng tuổi” chỉ những con người đứng tuổi từng trải. Giọng thơ lúc này trầm
hẳn xuống, câu thơ không đơn thuần chỉ là giọng kể, là sự cảm nhận mà còn là sự suy
nghĩ, chiêm nghiệm về đời người. Nhìn cảnh vật biến chuyển khi thu mới bắt đầu, Hữu
Thỉnh nghĩ đến cuộc đời khi đã “đứng tuổi”. Phải chăng, mùa thu đời người là sự khép lại
của những tháng ngày sôi nổi với những bất thường của tuổi trẻ và mở ra một mùa thu
mới, một không gian mới, yên tĩnh, trầm lắng và bình tâm hơn. Và khi con người ta đã
bước vào mùa thu của cuộc đời thì những vang động bất thường của cuộc sống sẽ không
còn đủ sức khiến người ta giật mình, sửng sốt. Vậy là “Sang thu” đâu chỉ là sự chuyển
giao của đất trời mà còn là sự chuyển giao cuộc đời mỗi con người. Hữu Thỉnh rất đỗi
tinh tế, nhạy bén trong cảm nhận và liên tưởng. Chính vì vậy những vần thơ của ông có
sức lay động lòng người mãnh liệt hơn.
3.Đánh giá
- Bằng biện pháp tu từ nhân hóa, các hình ảnh thơ tự nhiên, không trau chuốt mà giàu sức
gợi cảm, thể thơ năm chữ, bài thơ “Sang thu” của Hữu Thỉnh đã thể hiện một cách đặc
sắc những cảm nhận tinh tế để tạo ra một bức tranh chuyển giao từ cuối hạ sang thu nhẹ
nhàng, êm dịu,trong sáng nên thơ ở vùng đông bằng Bắc Bộ để từ đó gửi gắm những
suy nghĩ rất sâu sắc về con người và cuộc đời. Đọc “Sang thu”, ta nhận ra ở Hữu Thỉnh là
tình yêu tha thiết với thiên nhiên, là một tâm hồn tinh thế và vô cùng nhạy cảm. Điều đó
thật đáng để ta trân trọng.
C.Kết bài
- Khẳng định giá trị, ý nghĩa của bài thơ.
- Liên hệ, mở rộng: Bài thơ khơi gợi trong em những tình cảm gì? Em học đươc bài
học gì từ bài thơ ấy
File đính kèm:
de_cuong_on_tap_thi_ngu_van_9_bai_sang_thu.doc



