Giáo án Tự chọn Ngữ văn Lớp 9 - Chủ đề: Văn bản và tạo lập văn bản
Bạn đang xem nội dung tài liệu Giáo án Tự chọn Ngữ văn Lớp 9 - Chủ đề: Văn bản và tạo lập văn bản, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
CHỦ ĐỀ VĂN BẢN VÀ TẠO LẬP VĂN BẢN ( 4 TIẾT )
I. Mục tiêu cần đạt:
1.Năng lực:
a.năng lực chung
Năng lực giao tiếp, hợp tác nhóm: Biết tham gia thảo luận trong nhóm nhỏ, biết đặt
câu hỏi và trả lời, biết nêu một vài đề xuất dựa trên các ý tưởng được trình bày
trong quá trình thảo luận.
- Tự chủ và tự học: Biết tự tìm kiếm, đánh giá và lựa chọn nguồn tài liệu phù
hợp với các mục đích , nhiệm vụ học tập.
- Giải quyết vấn đề và sáng tạo:Biết kết nối các nội dung kiến thức cùng chủ đề,
phục vụ cho nhiệm vụ học tập.
b.Năng lực đặc thù
- Giúp học sinh củng cố hệ thống lại kiến thức về kỹ năng làm bài văn nghị luận
văn học
- Học sinh luyện tập một số bài về các kiến thức được học
2,Phẩm chất: Nghiêm túc trong túc trong giờ học .
II. THIẾT BỊ DẠY HỌC VÀ HỌC LIỆU:
- Giáo viên soạn giáo án
- Học sinh ôn lại các kiến thức đã học
III. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC
Tiết 27
KỸ NĂNG LÀM VĂN NGHỊ LUẬN
-
Hoạt động của giáo viên- Nội dung cần đạt
Học sinh Hoạt động 1 I Nghị luận về tác phẩm truyện
- Học sinh nhắc lại kiến 1. Khái niệm:
thức văn nghị luận mà các Nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích)
em đã học ở chương trình là trình bày những nhận xét, đánh giá của mình về
lớp 7 nhân vật, chủ đề hay nghệ thuật của một tác giả cụ
thể.
2. Yêu cầu
- Những nhận xét, đánh giá về truyện phải xuất
phát từ ý nghĩa của cốt truyện, tính cách, số phận của
nhân vật và nghệ thuật trong tác phẩm được người
viết phát hiện và khái quát.
- Các nhận xét, đánh giá về tác phẩm truyện
(hoặc đoạn trích) trong bài nghị luận phải rõ ràng,
đúng đắn, có luận cứ và lập luận thuyết phục.
- Bài nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn
trích) cần có bố cục mạch lạc, có lời văn chuẩn xác,
gợi cảm.
3. Các bước làm bài
Bước 1: Phân tích đề - Tìm ý
Phân tích đề
* Vấn đề nghị luận có các dạng:
- Nêu các bước làm bài văn - Phân tích nhân vật
nghị luận - Diễn biến cốt truyện
- Giá trị nghệ thuật
-
- Khi tìm hiểu đề ta phải * Yêu cầu nghị luận được thể hiện bằng các mệnh
xác định những yêu cầu nào lệnh:
của đề bài - Phân tích: Phân tích nội dung nghệ thuật của tác
phẩm để nêu ra nhận xét
- Suy nghĩ: Yêu cầu đề xuất nhận xét về tác phẩm
trên cơ sở một tư tưởng, một góc nhìn nào đó
- Cảm nhận: Là lưu ý đến ấn tượng, cảm thụ của
người viết phân tích tác phẩm để minh họa cho
cảm nhận.
Ghi nhớ: Học sinh có thể sử dụng hệ thống câu
hỏi sau để tìm hiểu đề:
1. Đề yêu cầu nghị luận về vấn đề gì? (nhân vật?
sự kiện? chủ đề? nghệ thuật?...).
2. Vấn đề nghị luận được nêu trực tiếp hay gián
tiếp? 3. Vấn đề nghị luận được thể hiện bằng những
luận điểm nào?
Tìm ý
Tùy từng đề bài nghị luận cụ thể học sinh sẽ đưa
ra hệ thống câu hỏi sát hợp. Tuy nhiên học sinh có
thể tham khảo hệ thống câu hỏi tìm ý sau:
1. Đề yêu cầu nghị luận về vấn đề gì (nhân vật?
sự kiện? chủ đề? nghệ thuật?...)
2. Vấn đề nghị luận được thể hiện bằng những
luận điểm nào?
- Muốn tìm ý cho một bài 3. Những dấn chứng nào làm sáng tỏ cho từng
văn, người ta thường làm luận điểm?
cách nào? 4. Có những tác phẩm nào có nét tương đồng
(nhân vật? sự kiện? chủ đề? nghệ thuật? hoàn cảnh
sáng tác?...)
5. Phong cách của nhà văn là gì? Phong cách ấy
đã được thể hiện như thế nào trong tác phẩm?
Bước 2: Lập dàn ý
Mở bài:
- Dẫn dắt
- Giới thiệu tác phẩm (tùy theo yêu cầu cụ thể của
đề bài) và nêu ý kiến đánh giá sơ bộ của mình
Thân bài:
Lần lượt trình bày các luận điểm
Kết bài:
Nêu nhận định, đánh giá chung của mình về tác
phẩm truyện, đoạn trích
Bước 3: Trình bày bài
- Dàn ý bài văn nghị luận có - Yêu cầu chung
mấy phần Về hình thức, bài viết phải có bố cục mạch lạc,
- Nêu yêu cầu của phần mở có luận điểm rõ ràng, luận cứ xác thực, phép lập luận
bài phù hợp; lời văn chính xác, sống động
a. Mở bài
- Trực tiếp (Không dẫn dắt)
- Gián tiếp (có dẫn dặt)- Có nhiều cách dẫn dắt
khác nhau:
- Nhiệm vụ của phần thân Cách 1: Tác giả phong cách tác phẩm
bài nêu vấn đề nghị luận
Ví dụ
- kết bài Lê Minh Khuê là nhà văn nữ có sở trường về truyện ngắn, với ngòi bút miêu tả tâm lý sắc sảo tinh
tế. Người ta dễ nhận thấy sự đa giọng điệu trong
- Viết bài hoàn chỉnh cần sáng tác của bà. Người đọc có thể nhận rõ sở trường,
đảm bảo yêu cầu nào? giọng điệu của nhà văn trong truyện ngắn “Những
ngôi sao xa xôi”. Tác phẩm cho người đọc thấy được
vẻ đẹp của những cô gái thanh niên xung phong trên
tuyến lửa Trường Sơn
- Có mấy cách viết phần mở Cách 2: Đề tài tác phẩm vấn đề nghị
bài? luận
Ví dụ:
Hình ảnh những cô gái thanh niên xung phong
mở đường Trường Sơn là đề tài của biết bao nhiêu
tác phẩm thi ca. Ta biết đến một nhạc khúc Cô gái
mở đường của nhạc sỹ Xuân Giao, một thi phẩm
“Gửi em cô thanh niên xung phong” của Phạm Tiến
Duật, một “Khoảng trời hố bom” của Lâm Thị Mỹ
Dạ. Một trong những truyện ngắn viết thành công về
đề tài này phải kể đến “Những ngôi sao xa xôi” của
Lê Minh Khuê. Tác phẩm cho người đọc thấy được
vẻ đẹp của những cô gái thanh niên xung phong trên
tuyến lửa Trường Sơn.
Cách 3: Đi từ hoàn cảnh thực tế (cuộc
sống, lịch sử ) tác phẩm vấn đề nghị luận
Ví dụ:
Năm 1971, cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu
nước bước vào giai đoạn cam go ác liệt. Giặc Mĩ bắn
phá điên cuồng, chúng muốn băm nát tuyến đường
Trường Sơn huyết mạch. Để thông đường ra chiến
trường những chiến sỹ Thanh niên xung phong đã
kiên cường ngày đêm bám trụ đối mặt với hiểm
nguy, với cái chết. Chính trong hoàn cảnh đó người
chiến sỹ Thanh niên xung phong đã ngời sáng lên
những phẩm chất cao đẹp. Lê Minh Khuê đã cho
người đọc thấy được vẻ đẹp của những cô gái thanh
niên xung phong trên tuyến lửa Trường Sơn qua tác
phẩm “Những ngôi sao xa xôi”.
Cách 4: Trích dẫn một vài câu thơ, lời bài
hát liên quan tới đề tài nghị luận tác phẩm
vấn đề nghị luận
Ví dụ: “Ơi những cô con gái đang ngày đêm mở đường
Hỏi em bao nhiêu tuổi mà sức em phi thường ”
Lời bài hát gợi lên hình ảnh những cô gái Thanh
niên xung phong mở đường trên tuyến lửa Trường
Sơn. Chính họ đã góp một phần công sức không nhỏ
trong cuộc chiến đấu chống Mĩ kiên cường anh dũng
của dân tộc. Có rất nhiều tác phẩm đã viết về họ với
biết bao phẩm chất cao đẹp trong đó có truyên ngắn
“Những ngôi sao xa xôi”. Tác phẩm cho người đọc
thấy được vẻ đẹp của những cô gái thanh niên xung
phongtrên tuyến lửa Trường Sơn.
b. Thân bài
Các luận điểm viết đan xen các cách trình bày:
diễn dịch, quy nạp, Tổng phân hợp để tránh đơn
điệu.
c. Kết bài
Cần viết ngắn gọn cô đọng cảm xúc
Bước 4: Đọc, kiểm tra lại bài viết
- Học sinh sửa lỗi chính tả, lỗi dùng từ, lỗi ngữ
pháp.
- Chú ý đến liên kết, mạch lạc giữa các câu trong
đoạn văn và các đoạn văn trong văn bản.
I. Nghị luận về tác phẩm thơ
1. Khái niệm
Nhắc lại khái niệm văn nghị Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ là trình bày
luận về một tác phẩm thơ nhận xét, đánh giá của mình về nội dung, nghệ
thuật của đoạn thơ, bài thơ ấy.
2. Yêu cầu
- Nội dung và nghệ thuật của một đoạn thơ, bài
thơ được thể hiện qua ngôn từ, hình ảnh, giọng
điệu Bài nghị luận cần phân tích được các yếu tố
đó để có những nhận xét cụ thể, xác đáng.
- Bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ cần có
bố cục mạch lạc rõ ràng, có lời văn gợi cảm, thể hiện
rung động chân thành của người viết
D. Củng cố hướng dẫn:
- Ôn tập lại lý thuyết
- Chuẩn bị bài sau: Luyện tập
Tiết 28
Các bước làm bài nghị 3. Các bước làm bài
luận Bước 1: Tìm hiểu đề - Tìm ý
Tìm hiểu đề
_ Yêu cầu của phân tìm Học sinh phải xác định được:
hiểu đề - Đề bài yêu cầu viết về vấn đề gì? (nội dung
nghị luận)
- Đề bài yêu cầu thao tác nghị luận như thế
nào?
- Giới hạn (một đoạn thơ hay cả bài thơ hay
một vấn đề của bài thơ)
- Giáo viên lưu ý học sinh Yêu cầu học sinh phân biệt được:
phân biệt các cách hỏi - Yêu cầu nghị luận được biểu thị bằng các từ:
khác nhau trong đề bài + Cảm nhận: Lưu ý đến ấn tượng, cảm thụ của
nghị luận: Cảm nhận, suy người viết,
nghĩ, phân tích..tránh + Phân tích: Như là chỉ định về phương pháp,
nhầm lẫn + Suy nghĩ: Nhấn mạnh đến nhận định, phân
tích của người làm bài,
+ Không có lệnh: Trường hợp không có lệnh,
người viết bày tỏ ý kiến của mình về vấn đề
được nêu ra trong bài bằng sự lựa chọn phân
tích hoặc suy nghĩ.
(Sự khác biệt trên chỉ ở sắc thái, không phải là
các “kiểu bài” nghị luận khác nhau)
- Học sinh xác định đúng nội dung nghị luận
trên cơ sở cảm hiểu đoạn thơ, bài thơ.
- Học sinh phải xác định chuẩn giới hạn tránh
nhầm lẫn đề yêu cầu phân tích đoạn thì phân tích
trọn vẹn tác phẩm và ngược lại.
Tìm ý
- Tìm ý trong bài nghị luận Tìm ý là quá trình học sinh tự đặt và trả lời các
bằng cách nào? câu hỏi xoay quanh vấn đề nghị luận. Tùy từng đề
mà học sinh sẽ đặt ra hệ thống câu hỏi sát hợp.
Tuy nhiên có thể vận dụng câu hỏi khái quát sau
đây:
- Vấn đề nghị luận bao gồm mấy luận điểm?
Là những luận điểm nào?
- Những dẫn chứng nào làm sáng tỏ cho từng luận điểm?
- Có những dẫn chứng nào (câu thơ, câu văn,
danh ngôn, tác phẩm ) liên quan tới vấn đề nghị
luận (để giúp học sinh so sánh, đối chiếu, bình,
đánh giá tác phẩm trong quá trình làm bài)?
- Phong cách của nhà thơ? Các tác phẩm tiêu
biểu thể hiện phong cách?
- Dàn ý bài nghị luận. Yêu Bước 2: Lập dàn ý
cầu của từng phần mở bài, Mở bài:
thân bài, kết bài - Dẫn dắt.
- Giới thiệu bài thơ, đoạn thơ và bước đầu nêu
khái quát nhận xét, đánh giá chung của mình
về bài thơ, đoạn thơ. (Nếu là đoạn thơ thì giới
thiệu rõ vị trí của đoạn thơ trong tác phẩm)
Thân bài:
Lần lượt trình bày các luận điểm (tùy theo yêu
cầu cụ thể của từng đề)
Kết bài:
Khẳng định giá trị, ý nghĩa của bài thơ, đoạn
- Khi viết bài hoàn chỉnh thơ.
cần lưu ý điều gì?( liên kết Bước 3: Viết bài hoàn chỉnh
câu, liên kết đoạn) Yêu cầu chung
- Về hình thức: bài viết phải có kết cấu chặt
chẽ, bố cục mạch lạc, có luận điểm rõ ràng, luận
cứ xác thực, phép lập luận phù hợp; lời văn chính
xác, sống động.
- Không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp,
chữ viết cẩn thận, sạch đẹp.
- Về nội dung: phải đầy đủ, đúng, trúng vấn đề
- Có mấy cách mở bài nghị luận mà đề bài yêu cầu.
trong bài nghị luận. Gợi ý dựng đoạn
a. Mở bài
- Trực tiếp (không dẫn dắt)
- Gián tiếp (có dẫn dắt) - Có nhiều cách dẫn
dắt khác nhau:
Cách 1: Tác giả phong cách tác phẩm
nêu vấn đề nghị luận.
Cách 2: Đề tài tác phẩm vấn đề nghị
luận.
Cách 3: Đi từ hoàn cảnh thực tế (cuộc sống, lịch sử ) tác phẩm vấn đề nghị luận.
Cách 4: Trích dẫn một vài câu thơ, lời bài hát
liên quan tới đề tài nghị luận tác phẩm
vấn đề nghị luận.
Cách 5: Từ thể loại đến tác phẩm vấn đề
nghị luận.
Ví dụ:
- Cách 1: Hữu Thỉnh làm thơ không nhiều
nhưng ông đã sớm khẳng định một phong cách
riêng: Nhẹ nhàng mà sâu lắng, nhiều chất dân gian
và chất triết lý sâu sắc. Có lẽ vì thế thơ ông mang
đến cho bạn đọc những cảm xúc mới mẻ về tâm
hồn con người - một thế giới còn ẩn chứa bao điều
bất ngờ thú vị. Phong cách ấy được thể hiện rất rõ
trong bài thơ “Sang thu”
- Cách 2: Mùa thu là đề tài quen thuộc của thi
nhân. Ta biết đến một chùm thơ thu nức danh của
cụ Tam Nguyên Yên Đổ, một “Tiếng thu” của Lưu
Trọng Lư, một “Đây mùa thu tới” của Và
Hữu Thỉnh đã góp một thi phẩm vào trong vườn
thơ thu ấy đó là “Sang thu”. Tưởng như thơ viết về
mùa thu đã qua nhiều dễ gây nhàm chán song đến
với “Sang thu” của Hữu Thỉnh người đọc thấy
được sự sáng tạo rất tài tình của ông. Đọc Sang thu
đã có ý kiến cho rằng: “Chỉ 12 câu thơ năm chữ
mà anh đã vẽ lên một bức tranh sang thu vừa đúng
vừa đẹp lại có tình, có chiều sâu suy nghĩ”
- Cách 3:
“Sáng mát trong như sáng năm xưa
Gió thổi mùa thu hương cốm mới”
Thu sang, gió heo may nhè nhẹ, hương cốm
thoảng đưa. Đây là thời điểm dễ gợi trong lòng
người bao cảm xúc buồn dịu nhẹ vấn
vương .Viết về giây phút giao mùa từ hạ sang
thu Hữu Thỉnh đã thể hiện những cảm nhận tinh tế,
những sáng tạo độc đáo qua thi phẩm “Sang thu”
- Cách 5: Từ xưa đến nay thể thơ năm chữ
được coi là thể thơ đắc địa trong việc thể hiện cảm
xúc suy tuy chất chứa đan xen chất tự sự. Ta biết
đến một “Tĩnh dạ tứ” của Lí Bạch một “Ông đồ” của Vũ Đình Liên, một “Ánh trăng” của Nguyễn
Duy. Trong số những tác phẩm thành công về thể
thơ này ta không thể không kể đến bài “Sang thu”
của Hữu Thỉnh. Bằng thể thơ năm chữ với những
hình ảnh giàu sức biểu cảm Hữu Thỉnh đã cho ra
thấy những cảm nhận tinh tế về sự sang thu của đất
trời cũng như của con người.
b. Thân bài
Các luận điểm viết đan xen các cách trình bày:
diễn dịch, quy nạp, tổng phân hợp để tránh đơn
điệu.
c. Kết bài
Cần viết ngắn gọn cô đọng hàm súc.
Bước 4: Đọc, kiểm tra, sửa l i
- Học sinh sửa lỗi chính tả, lỗi dùng từ, lỗi ngữ
pháp.
- Chú ý đến liên kết, mạch lạc giữa các câu
trong đoạn văn và các đoạn văn trong văn bản.
D. Củng cố hướng dẫn:
- Ôn tập lại lý thuyết
TIẾT 29: CÁCH VIẾT MỞ BÀI VÀ KẾT BÀI TRONG BÀI VĂN NGHỊ
LUẬN VĂN HỌC
I. Một số cách viết mở bài
1. Mở bài bằng nhận định tác giả và quan niệm sáng tác
2. Mở bài bằng chủ đề hay hình tượng trung tâm
3. Mở bài bằng lí luận văn học
1. Mở bài bằng nhận định tác giả và quan niệm sáng tác
Nếu bạn mở bài bằng cách nêu quê quán, năm sinh, năm mất, cuộc đời của tác giả,
cách mở bài này rất rập khuôn và hạn định khả năng của người viết. Thay vì vẫn
bắt đầu bằng các thói quen cũ là năm sinh, quê quán, sự nghiệp của tác giả như
vậy, bạn hãy mở bài bằng cách dẫn dắt một nhận định của nhà phê bình văn học
nào đó về tác giả hoặc bạn nêu quan điểm sáng tác của tác giả đó. Ví dụ: Khi mở bài đề “ Cảm nhận của em về đoạn trích chiếc lược ngà của Nguyễn
Quang Sáng”
Cách 1: Lối mở bài thông thường
Nguyễn Quang Sáng sinh năm 1932, quê ở Chợ Mới, tỉnh An Giang. Trong những
năm kháng chiến chống Mỹ ông sống và hoạt động tại chiến trường Năm Bộ. Ông
đã để lại nhiều tác phẩm đăc sắc tiêu biểu với nhiều thể loại khác nhau như truyện
ngắn: Con chim vàng, Người quê hương, Chiếc lược ngà, Bông cẩm thạch tiểu
thuyết có: Đất lửa, Mùa gió chướng, Dòng sông thơ ấu Ngoài ra còn có một số
kịch bản phim lưu trữ trong lòng người như: Một thời đã nhớ.
Truyện ngắn “ chiếc lược ngà” viết vào tháng 9/1966 tại chiến trường Nam Bộ
trong thời kì kháng chiến chống Mỹ ác liệt, ca ngợi tình cảm đồng chí, cha con sâu
sắc.
Cách 2: Lối viết theo cách đưa ra một nhận định
Có một nhà văn đã nói rằng : “Không có câu chuyện cổ tích nào đẹp bằng chính
cuộc sống viết ra”. Cuộc chiến tranh chống Mĩ của dân tộc ta với biết bao câu
chuyện đã trở thành huyền thoại được các nhà văn ghi lại như những câu chuyện
cổ tích hiện đại. Trong số ấy phải kể đến “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang
Sáng. Câu chuyện đã thể hiện thật cảm động tình cảm cha con sâu nặng và cao đẹp
trong cảnh ngộ éo le của chiến tranh.
Văn bản đoạn trích là ở phần giữa câu chuyện, tập trung thể hiện sâu sắc và cảm
động tình cha con của ông Sáu và bé Thu qua những tình huống bất ngờ mà tự
nhiên, hợp lí. Đó không chỉ là một tình cảm muôn thuở, có tính nhân bản bền
vững, mà còn được thể hiện trong hoàn cảnh ngặt nghèo, éo le của chiến tranh và
trong cuộc sống nhiều gian khổ, hi sinh của người cán bộ cách mạng.
Khi bạn mở bài theo cách hai bạn sẽ thể hiện được sự am hiểu kiến thức văn học
của bạn về tác giả, những nhận định của những nhà phê bình văn học hay quan
niệm sáng tác lúc nào cũng “đúng”, “trúng” và đặc biệt có vần, âm điệu rất dễ đi
vào lòng người, thuyết phục người đọc. Tuy nhiên, điều đặc biệt là bạn phải có sự
hiểu biết sâu rộng về nhà văn cũng như nhà phê bình văn học, bạn phải học thuộc và ghi nhớ tốt các câu nhận định để tránh các trường hợp “râu ông nọ cắm cằm bà
kia”.
2. Mở bài bằng chủ đề hay hình tượng trung tâm
Chủ đề là các khái quát bao trùm lên toàn bộ tác phẩm, toàn bài thơ, là mạch chính
của toàn bộ tác phẩm. Hình tượng trung tâm có thể là nhân vật chính hay hình
tượng mà nhà văn xây dựng lên.
Nếu như các bạn có thể mở bài bằng chủ đề hoặc hình tượng trung tâm thì bài viết
sẽ mang tính khái quát cao hơn từ đó cho người chấm thấy rằng bạn có đọc qua và
nắm vững được nội dung tác phẩm, biết cách liên quan tới chủ đề chính mà tác
phẩm hướng tới. Tuy nhiên để mở bài tốt bằng cách này bạn phải đọc tác phẩm,
nắm được nội dung cốt truyện, nhân vật chính, tình tiết và cả những tư tưởng của
tác giả.
Ví dụ: Bài “ Đồng chí” của Chính Hữu trong ngữ văn 9 tập 2.
Cách 1: Văn học hiện đại Việt Nam trong thời kì chống ngoại xâm đã thể hiện một
cách chân thực, sáng tạo và độc đáo về hình ảnh thế hệ trẻ Việt Nam anh hùng
quyết tâm gìn giữ, bảo vệ Tổ quốc. Họ mang trong mình nhiệt huyết chiến đấu sục
sôi, quên đi lợi ích riêng của bản thân để cống hiến cho đất nước.
Nghe theo tiếng gọi nồng nàn, cháy bỏng trong tim, họ sẵn sàng bước chân vào
cuộc đời người lính. Và “Đồng chí” là tất cả những lời thơ mà Chính Hữu muốn
ngợi ca sự cao đẹp của tình đồng đội trong kháng chiến họ dành cho nhau.
Cách 2: Vào những năm kháng chiến chống Pháp, đất nước ta sục sôi ý chí, quyết
tâm đánh giặc. Hoà mình vào khí thế ấy đã có hàng vạn, hàng triệu thanh niên nhập
ngũ. Những chiến sĩ dũng cảm, can trường ấy đã trở thành một hình tượng, một đề
tài trong thơ ca thời đó. Một trong những bài thơ rất hay về người chiến sĩ, về tình
đồng đội là bài Đồng chí của nhà thơ lính Chính Hữu.
Cách 3: Tình cảm là thứ quan trọng nhất đối với mỗi con người. Nó như dòng
nước ngọt ngào chảy dọc trong ống nhựa tắm mát tâm hồn ta, tưới nước cho cái hạt
giống tinh thần bên trong ta nảy nở. Thiếu đi cái ngọt ngào của tình cảm, tả sẽ chỉ như cái ống nước rỗng ruột, khô cứng, tâm hồn ta sẽ chẳng khác gì hoang mạc cằn
khô nứt nẻ.
Tình cảm trong chiến tranh, trong những mưa bom bão đạn, những khói lửa mịt mù
lại càng đáng nhớ hơn, nó thể hiện sự gắn bó, yêu thương không điều kiện, đồng
cam cộng khổ vượt qua những chông gai của cuộc chiến. Thứ tình cảm thiêng liêng
ấy không gì khác chính là tình đồng chí. Nhà thơ Chính Hữu đã viết về tình cảm
cao đẹp ấy, đồng thời tái hiện lài một cách chân thực hình ảnh người lính chống
Pháp, qua bài thơ “Đồng chí” của ông.
3. Mở bài bằng lí luận văn học
Lý luận văn học là bộ môn nghiên cứu văn học ở bình diện lý thuyết khái quát cao,
bao gồm trong đó có sự nghiên cứu bản chất của sáng tác văn học, chức năng xã
hội, thẩm mỹ của nó, đồng thời xác định được phương pháp luận và phương pháp
phân tích văn học.
Khi các bạn có thể mở bài bằng lý luận văn học sẽ tạo được ấn tượng rất tốt về
phần mở bài, Bởi lý luận văn học rất khô khan và cứng nhắc nếu như vận dụng
được thì bài văn sẽ có giá trị cao về mặt ý nghĩa. Tuy nhiên khi mở bài bằng cách
này thì bạn cần đọc qua nhiều bài lý luận văn học hoặc có nghiên cứu về lý luận
văn học, có một chút năng khiếu và kỹ năng viết văn.
Ví dụ: Khi vấn đề nghị luận liên quan đến bài thơ “ Đàn ghi ta của Lorca” ( Tác
giả Thanh Thảo,). Bạn có thể vận dụng kiến thức về quy luật kế thừa, cách tân
trong văn học, đây là cách mở bài kết hợp giữa lý luận văn học và chủ đề sáng tạo
là hình tượng nghệ sĩ tài hoa mà bất hạnh của chung 3 nhà thơ, 3 thời kỳ
“Văn học bao đời nay đố kỵ sự trùng lặp nhưng lại không phủ nhận những kế
thừa, cách tân giữa các thế hệ cầm bút. Bởi vậy mà thế kỷ XIII, đại thi hào Nguyễn
Du đã khóc thương nàng Tiểu Thanh tài hoa mệnh bạc, Tố Hữu tiếc thương cụ
Tiên Điền 200 năm sau và đến lượt Thanh Thảo, nhà thơ không khỏi xúc động cúi
mình trước Lorca, thi sĩ bất hạnh xứ Tây ban cầm” Mở bài là cách mở đầu một bài viết, là những nhận định, đánh giá rằng bài viết đó
có ấn tượng và độc đáo hay không? Gia sư văn tại nhà tin rằng đó là một số kỹ
năng bổ ích giúp bạn cải thiện được khả năng viết văn của mình.
Tiết 30
CÁCH VIẾT MỞ BÀI VÀ KẾT BÀI TRONG BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VĂN
HỌC
II.Hướng dẫn các cách viết kết
Để một bài văn được trọn vẹn và hấp dẫn người đọc, gây ấn tượng với người chấm
thì học sinh cần rèn cách viết kết bài sao cho đúng ý và hay. Dưới đây là những
hướng dẫn cụ thể của cô Phượng về các cách viết kết bài hay đối với bài văn dạng
nghị luận văn học.
1.Cách viết kết bài theo kiểu truyền thống
Với cách kết bài này, học sinh cần đảm bảo được các nội dung như sau: Tóm lược
lại vấn đề, nghĩa là khẳng định lại vấn đề cần nghị luận; sau đó cần đánh giá về
thành công của tác giả; cuối cùng là đưa ra bài học để nâng cao quan điểm.
Ví dụ: “Bài thơ “Đồng chí” với ngôn ngữ chân thực, hình ảnh lãng mạn, nụ cười
ngạo nghễ của các chiến sĩ đã lay động biết bao trái tim con người. Sự mộc mạc và
tinh tế của Chính Hữu đã tạo nên dấu ấn đặc biệt cho tác phẩm. Vẻ đẹp của người
lính nông dân sống mãi với quê hương, với Tổ quốc, với thế hệ hôm nay, ngày mai
hay mãi mãi về sau.”
2.Cách viết kết bài mở rộng và nâng cao vấn đề
Cách kết bài này đòi hỏi học sinh phải đưa lí luận vào trong phần kết bài. Cụ thể:
Gói lại vấn đề cần nghị luận, khẳng định tài năng sử dụng nghệ thuật của tác giả và
bài học nâng cao quan điểm. Kết bài này thường dành cho học sinh có học lực khá
trở lên. Tuy nhiên khi viết học sinh nên trong chừng mực đừng đi quá xa vấn đề
dẫn đến bị lạc đề. Ví dụ: “Xuân Diệu quan niệm: Thơ là hiện thực, thơ là cuộc đời, thơ còn là thơ
nữa”. Chính Hữu đã đem hiện thực ấy vào trong trang viết của mình một cách tự
nhiên, đồng thời ông cũng khiến con tim người đọc tan chảy khi chứng kiến tình
đồng chí, đồng đội gắn bó keo sơn trong tột cùng gian khổ. Quả thực văn học chân
chính nằm ngoài sự băng hoại của thời gian, nên hình tượng người lính trong
“Đồng chí” vẫn sáng ngời cho đến tận hôm nay và mãi mãi về sau.”
3.Cách viết kết bài vận dụng kiến thức thực tế
Cách viết kết bài này người viết đi từ thực tế vào trong tác phẩm, khiến cho bài
viết không bị nhàm chán, đóng khung.
Ví dụ: “Mỗi lần có dịp đi qua quảng trường Ba Đình lịch sử, ta vẫn thấy dòng
người như bất tận vào lăng viếng Bác. Ta chợt nhớ tới bài thơ “Viếng lăng Bác”
của Viễn Phương với những ước nguyện cao đẹp dâng hiến lên Người. Bác đã đi
xa và Viễn Phương cũng đã trở thành người thiên cổ nhưng dư âm của bài thơ sẽ
còn mãi ngân vang.”
*Gv: yêu cầu hs luyện đề
Tổ CM duyệt
Tạ Thị Nhung
File đính kèm:
giao_an_tu_chon_ngu_van_lop_9_chu_de_van_ban_va_tao_lap_van.pdf



