Giáo án dạy thêm Ngữ văn 9 - Chuyên đề 2: Nghị văn học câu 3
Bạn đang xem nội dung tài liệu Giáo án dạy thêm Ngữ văn 9 - Chuyên đề 2: Nghị văn học câu 3, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
GIÁO ÁN ÔN THI
(GIAI ĐOẠN 10/3-3/6/2024)
CHUYÊN ĐỀ NGHỊ LUẬN VĂN HỌC- CÂU 3: ( 5 BUỔI)
A.Yêu cầu về kiến thức:
1. Học sinh nắm chắc kiến thức của tất cả các văn bản đã học ( trừ các văn bản đọc
thêm và tự học có hướng dẫn) trên các phương diện tác giả, nội dung và nghệ thuật
của tác phẩm.
2. Nắm được phương pháp làm các dạng bài văn nghị luận văn học
3.HS hiểu sâu về mỗi chủ đề để biết liên hệ, mở rộng trong quá trình làm bài.
B. Yêu cầu về kĩ năng:
- Học sinh viết được bài văn nghị luận theo yêu cầu với các dạng bài cơ bản.
C. Nội dung:
Buổi 1
I. Dạng bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ
1. Dạng cơ bản:
- Nghị luận về một đoạn thơ
- Nghị luận về một bài thơ.
2. Dạng nâng cao:
- Nghị luận về hai đoạn thơ cách nhau trong 1 tác phẩm
- Nghị luận về hai đoạn thơ ở hai bài thơ khác nhau.
Bài tập:
*Học sinh vẽ lại sơ đô kiến thức cơ bản của các tác phẩm thơ trước khi làm bài tập
Bài 1: Phân tích đoạn trích “ Chị em Thúy Kiều” ( Trích Truyện Kiều – Nguyễn
Du”
Bài 2: Cảm nhận của em về đoạn thơ sau trong đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích(
trích Truyện Kiều- Nguyễn Du)
Buồn trông cửa bể chiều hôm,
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?
Buồn trông ngọn nước mới sa,
Hoa trôi man mác biết là về đâu?
Buồn trông nội cỏ rầu rầu,
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.
Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.
( Trích: Kiều ở lầu Ngưng Bích)
Bài 3: Cảm nhận của em về đoạn trích “ Cảnh ngày xuân” ( Truyện Kiều- Nguyễn
Du)
Bài 4: Cảm nhận của em về đoạn thơ sau:
Ruộng nương anh gửi bạn thân cày
Gian nhà không mặc kệ gió lung lay
Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính.
Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh
Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi.
Áo anh rách vai
Quần tôi có vài mảnh vá
Miệng cười buốt giá
Chân không giày
Thương nhau tay nắm lấy bàn tay.
( Đồng Chí- Chính Hữu)
Bài 5: Phân tích đoạn thơ sau
Không có kính không phải vì xe không có kính
Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi
Ung dung buồng lái ta ngồi,
Nhìn đất, nhìn trời nhìn thẳng.
Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng
Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim
Thấy sao trời và đột ngột cánh chim
Như sa, như ùa vào buồng lái.
Không có kính, ừ thì có bụi,
Bụi phun tóc trắng như người già
Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc
Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha.
( Bài thơ: Bài thơ về tiểu đội xe không kính- Phạm Tiến Duật)
Bài 6: Cảm nhận của em về đoạn thơ sau:
Bác nằm trong giấc ngủ bình yên
Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền
Vẫn biết trời xanh là mãi mãi
Mà sao nghe nhói ở trong tim!
Mai về miền Nam thương trào nước mắt
Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác
Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây
Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này.
( Trích Viếng lăng Bác – Viễn Phương)
Bài 7: Cảm nhận của em về đoạn thơ sau trong bài Ánh trăng của Nguyễn Duy:
Ngửa mặt lên nhìn mặt
có cái gì rưng rưng
như là đồng là bể
như là sông là rừng
Trăng cứ tròn vành vạnh
kể chi người vô tình
ánh trăng im phăng phắc
đủ cho ta giật mình.
(Sách Ngữ văn 9, tập một)
Buổi 2 :
2. Dạng bài nâng cao :
Bài 1: Cảm nhận của em về đoạn thơ sau:
Ta hát bài ca gọi cá vào, Câu hát căng buồm với gió khơi,
Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao. Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời.
Biển cho ta cá như lòng mẹ Mặt trời đội biển nhô màu mới,
Nuôi lớn đời ta tự buổi nào. Mắt cá huy hoàng muôm rặm phơi.
Sao mờ kéo lưới kịp trời sáng
( Trích : Đoàn thuyền đánh cá-
Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng
Huy Cận)
Vẩy bạc đuôi vàng lóe rạng đông
Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng
Bài 2: Cảm nhận của em về đoạn thơ sau:
-Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa
Ta nhập vào hòa ca
Một nốt trầm xao xuyến
- Mai về miền Nam thương trào nước mắt
Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác
Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây
Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này.
( Trích Viếng lăng Bác – Viễn Phương)
Bài 3: Phân tích hai đoạn thơ sau:
-Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh
Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi.
Áo anh rách vai
Quần tôi có vài mảnh vá
Miệng cười buốt giá
Chân không giày
Thương nhau tay nắm lấy bàn tay.
( Đồng Chí- Chính Hữu)
- Không có kính, ừ thì có bụi,
Bụi phun tóc trắng như người già
Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc
Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha.
Không có kính ừ thì ướt áo
Mưa tuôn mưa xối như ngoài trời
Chưa cần thay lái trăm cây số nữa
Mưa ngừng gió lùa khô mau thôi.
( Bài thơ: Bài thơ về tiểu đội xe không kính- Phạm Tiến Duật)
================
Buổi 3
II. Dạng bài Nghị luận về một tác phẩm truyện ( đoạn trích)
1. Các dạng bài tập
- Nghị luận về một nhân vật
- Nghị luận về tình huống - Nghị luận về chủ đề
- Nghị luận về một đoạn trích trong tác phẩm
2. Bài tập
Học sinh vẽ lại sơ đồ tư duy khái quát các kiến thức cơ bản của tác phẩm
Luyện tập
a.Dạng cơ bản
Bài tập 1: Phân tích vẻ đẹp và số phận của nhân vật Vũ Nương ( Truyện: Chuyện
người con gái Nam Xương)
Bài tập 2:Cảm nhận của em về vẻ đẹp của nhân vật anh thanh niên trong truyện
ngắn “ lặng lẽ Sa Pa” ( Nguyễn Thành Long)
Bài tập 3: Cảm nhận cảu em về nhân vật Ông Hai ( Làng- Kim Lân )
Bài tập 4: Cảm nhận của em về nhân vật Bé Thu ( Chiếc lược ngà- Nguyễn Quang
Sáng)
Bài tập 5: Cảm nhận của em về nhân vật Ông Sáu (( Chiếc lược ngà- Nguyễn
Quang Sáng)
Bài tập 6 Cảm nhận của em về nhân vật Phương Định ( Những ngôi sao xa xôi-
Lê Minh Khuê)
b. Dạng nâng cao:
Bài tập 1:Trong Truyện ngăn “ Lặng lẽ SaPa” Nguyễn Thành Long đã viết về
nhân vật anh thanh niên như sau:
Anh hạ giọng, nửa tâm sư, nửa đọc lại một điều rõ ràng đã ngẫm nghĩ nhiều:
- Hồi chưa vào nghề, những đêm bầu trời đen kịt, nhìn kĩ mới thấy một ngôi sao xa,
cháu cũng nghĩ ngay ngôi sao kia lẻ loi một mình. Bây giờ làm nghề này cháu không
nghĩ như vậy nữa. Vả, khi ta việc, ta với công việc là đôi, sao gọi là một mình được?
Huống chi việc của cháu gắn liền với việc của bao anh em, đồng chí dưới kia. Công
việc của cháu gian khổ thế đấy, chứ cất nó đi, cháu buồn đến chết mất. Còn người
thì ai mà chả “thèm” hở bác? Mình sinh ra là gì, mình đẻ ở đâu, mình vì ai mà làm
việc? Đấy, cháu tự nói với cháu thế đấy. Bác lái xe đi, về Lai Châu cứ đến đây dừng
lại một lát. Không vào giờ “ốp” là cháu chạy xuống chơi, lâu thành lệ. Cháu bỗng
dưng tự hỏi: Cái nhớ xe, nhớ người ấy thật ra là cái gì vậy? Nếu là nỗi nhớ phồn hoa
đô hội thì xoàng. Cháu ở liền trong trạm hằng tháng. Bác lái xe bao lần dừng, bóp
còi toe toe, mặc, cháu gan lì nhất định không xuống. Ấy thế là một hôm, bác lái phải
thân hành lên trạm cháu. Cháu nói: “Đấy, bác cũng chẳng “thèm” người là gì?”
Anh xoay sang người con gái đang một mắt đọc cuốn sách, một mắt lắng nghe, chân
cô đung đưa khe khẽ, nói: - Và cô cũng thấy đấy, lúc nào tôi cũng có người trò chuyện. Nghĩa là có sách ấy
mà. Mỗi người viết một vẻ.
Cảm nhận của em về nhân vật anh thanh niên trong đoạn trích trên. Từ đó
hãy liên hệ với hình ảnh của thế hệ trẻ Việt Nam trong đời sống hiện nay
Bài tập 2 Cảm nhận của em về đoạn trích sau:
- Trời ơi, chỉ còn có năm phút!
Chính là anh thanh niên giật mình nói to, giọng cười nhưng đầy tiếc rẻ. Anh chạy ra
nhà phía sau, rồi trở vào liền, tay cầm một cái làn. Nhà họa sĩ tặc lưỡi đứng dậy. Cô
gái cũng đứng lên, đặt lại chiếc ghế, thong thả đi đến chỗ bác già.
- Ô! Cô còn quên chiếc mùi soa đây này!
Anh thanh niên vừa vào, kêu lên. Để người con gái khỏi trở lại bàn, anh lấy chiếc
khăn tay còn vo tròn cặp giữa cuốn sách tới trả cho cô gái. Cô kĩ sư mặt đỏ ửng,
nhận lại chiếc khăn và quay vội đi.
- Chào anh. - Đến bậu cửa, bỗng nhà họa sĩ già quay lại chụp lấy tay người thanh
niên lắc mạnh. - Chắc chắn rồi tôi sẽ trở lại. Tôi ở với anh ít hôm được chứ?
Đến lượt cô gái từ biệt. Cô chìa tay ra cho anh nắm, cẩn trọng, rõ ràng, như người ta
cho nhau cái gì chứ không phải là cái bắt tay. Cô nhìn thẳng vào mắt anh - những
người con gái sắp xa ta, biết không bao giờ gặp ta nữa, hay nhìn ta như vậy.
- Chào anh.
Lần đầu, chính là anh thanh niên quay mặt đi. Anh ấn cái làn vào tay bác già và nói
vội vã:
- Cái này để ăn trưa cho bác, cho cô và bác lái xe. Cháu có bao nhiêu là trứng, ăn
không xuể. Cháu không tiễn bác và cô ra xe được, vì gần tới giờ “ốp” rồi. Thôi chào
bác, chào cô. Bác sẽ trở lại nhé.
Hai ông con theo bậc cấp bước xuống đồi, đến mặt đường nhìn lên, không thấy người
con trai đứng đấy nữa. Anh ta đã vào nhà trong. Ông xách cái làn trứng, cô ôm bó
hoa to. Lúc bấy giờ, nắng đã mạ bạc cả con đèo, đốt cháy rừng cây hừng hực như
một bó đuốc lớn. Nắng chiếu làm cho bó hoa càng thêm rực rỡ và làm cho cô gái
cảm thấy mình rực rỡ theo. Hai người lững thững đi về phía chiếc xe đỗ, im lặng rất
lâu. Bỗng bác già nhìn chiếc đồng hồ nói một mình:
- Thanh niên bây giờ lạ thật! Các anh chị cứ như con bướm. Mà đã mười một giờ,
đến giờ “ốp” đâu? Tại sao anh ta không tiễn mình đến tận xe nhỉ?
Cô gái liếc nhìn bác già một cái rất nhanh, tự nhiên hồi hộp, nhưng vẫn im lặng.
(Trích Lặng lẽ Sa Pa, Nguyễn Thành Long, Ngữ văn 9, Tập một)
Bài tập 3 : Cảm nhận của em về tình cha con giữa ông Sáu và bé Thu đoạn
truyện sau :
Đến lúc chia tay, mang ba lô trên vai, sau khi bắt tay hết mọi người, anh Sáu
mới đưa mắt nhìn con, thấy nó đứng trong góc nhà.
Chắc anh cũng muốn ôm con, hôn con, nhưng hình như cũng lại sợ nó giẫy
lên lại bỏ chạy, nên anh chỉ đứng nhìn nó. Anh nhìn với đôi mắt trìu mến lẫn buồn
rầu. Tôi thấy đôi mắt mênh mông của con bé bỗng xôn xao.
- Thôi ! Ba đi nghe con ! – Anh Sáu khe khẽ nói.
Chúng tôi, mọi người – kể cả anh, đều tưởng con bé sẽ đứng yên đó thôi.
Nhưng thật lạ lùng, đến lúc ấy, tình cha con như bỗng nổi dậy trong người nó,
trong lúc không ai ngờ đến thì nó bỗng kêu thét lên:
- Ba a a ba!
Tiếng kêu của nó như tiếng xé, xé sự im lặng và xé cả ruột gan mọi người,
nghe thật xót xa. Đó là tiếng “ba” mà nó cố đè nén trong bao nhiêu năm nay, tiếng
“ba” như vỡ tung ra từ đáy lòng nó, nó vừa kêu vừa chạy xô tới, nhanh như một
con sóc, nó chạy thót lên và dang hai tay ôm chặt lấy cổ ba nó. Tôi thấy làn tóc tơ
sau ót nó như dựng đứng lên.
Nó vừa ôm chặt lấy cổ ba nó vừa nói trong tiếng khóc:
- Ba! Không cho ba đi nữa ! Ba ở nhà với con !
Ba nó bế nó lên. Nó hôn ba nó cùng khắp. Nó hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn cả
vết thẹo dài bên má của ba nó nữa.
....
Trong lúc đó, nó vẫn ôm chặt lấy ba nó. Không ghìm được xúc động và không
muốn cho con thấy mình khóc, anh Sáu một tay ôm con, một tay rút khăn lau nước
mắt, rồi hôn lên mái tóc con :
- Ba đi rồi ba về với con !
Không !- Con bé hét lên, hai tay nó xiết chặt lấy cổ, chắc nó nghĩ hai tay không
thể giữ được ba nó, nó dang cả hai chân rồi câu chặt lấy ba nó, và đôi tay của nó
run run.
(Nguyễn Quang Sáng, Chiếc lược ngà, Ngữ văn 9, Tập 1)
======================================================
Buổi 4:
Câu 4: Phân tích đoạn trích sau:
“Qua năm sau, giặc ngoan cố đã chịu trói, việc quân kết thúc. Trương Sinh về tới
nhà, được biết mẹ đã qua đời, con vừa học nói. Chàng hỏi mồ mẹ, rồi bế đứa con
nhỏ đi thăm, đứa trẻ không chịu, ra đến đồng, nó quấy khóc. Sinh dỗ dành:
- Con nín đi, đừng khóc! Cha về, bà đã mất, lòng cha buồn khổ lắm rồi! Đứa con
ngây thơ hỏi: - Ô hay! Thế ra ông cũng là cha tôi ư? Ông lại biết nói, chứ không
như cha tôi trước kia chỉ nín thin thít. Chàng ngạc nhiên gạn hỏi. Đứa con nhỏ nói: - Trước đây, thường có một người đàn ông, đêm nào cũng đến, mẹ Đản đi cũng đi,
mẹ Đản ngồi cũng ngồi, nhưng chẳng bao giờ bế Đản cả. Tính chàng hay ghen,
nghe đứa con nói vậy, tin chắc đinh ninh là vợ hư, không còn cách gì tháo cởi ra
được.
Về đến nhà, chàng la um lên cho hả giận. Vợ chàng khóc mà rằng:
- Thiếp vốn con kẻ khó, được nương tựa nhà giàu. Sum họp chưa thỏa tình chăn
gối, chia phôi vì động việc lửa binh. Cách biệt ba năm giữ gìn một tiết. Tô son
điểm phấn từng đã nguội lòng, ngõ liễu tường hoa chưa hề bén gót. Đâu có sự mất
nết hư thân như lời chàng nói. Dám xin bày tỏ để cởi mối nghi ngờ. Mong chàng
đừng một mực nghi oan cho thiếp.
Chàng vẫn không tin. Nhưng nàng hỏi chuyện kia do ai nói thì lại giấu không kể
lời con nói .Nàng bất đắc dĩ nói:
- Thiếp sở dĩ nương tựa vào chàng vì có cái thú vui nghi gia nghi thất. Nay đã bình
rơi trâm gãy, mây tạnh mưa tan, sen rũ trong ao, liễu tàn trước gió; khóc tuyết bông
hoa rụng cuống, kêu xuân cái én lìa đàn, nước thẳm buồm xa, đâu có thể lại lên núi
Vọng Phu kia nữa.
Đoạn rồi, nàng tắm gội chay sạch, ra bến Hoàng Giang ngửa mặt lên trời mà than
rằng:
- Kẻ bạc mệnh này duyên phận hẩm hiu, chồng con rẫy bỏ, điều đâu bay buộc,
tiếng chịu nhuốc nhơ, thần sông có linh, xin ngài chứng giám. Thiếp nếu đoan
trang giữ tiết , trinh bạch gìn lòng, vào nước xin làm ngọc Mị Nương, xuống đất
xin làm cỏ Ngu mĩ. Nhược bằng lòng chim dạ cá, lừa chồng dối con, dưới xin làm
mồi cho cá tôm, trên xin làm cơm cho diều quạ, và xin chịu khắp mọi người phỉ
nhổ” ( Chuyện người con gái Nam Xương- Nguyễn Dữ)
( Trích Ngữ văn 9, tập một, NXB Giáo dục 2014)
Bài 5: Cảm nhận của em về tình cha con trong đoạn trích sau:
Từ con đường mòn chạy lẫn trong rừng sâu, anh hớt hải chạy về, tay cầm khúc ngà
đưa lên khoe với tôi. Mặt anh hớn hở như một đứa trẻ được quà.
Sau đó anh lấy vỏ đạn hai mươi ly của Mỹ, đập mỏng làm thành một cây cưa nhỏ,
cưa khúc ngà thành từng miếng nhỏ. Những lúc rỗi, anh cưa từng chiếc răng lược,
thận trọng, tỷ mỉ và cố công như người thợ bạc. Chẳng hiểu sao tôi thích ngồi nhìn
anh làm và cảm thấy vui vui khi thấy bụi ngà rơi mỗi lúc một nhiều. Một ngày, anh
cưa được một vài răng. Không bao lâu sau, cây lược được hoàn thành. Cây lược
dài độ hơn một tấc, bề ngang độ ba phân rưỡi, cây lược cho con gái, cây lược dùng
để chải mái tóc dài, cây lược chỉ có một hàng răng thưa. Trên sóng lưng lược có
khắc một hàng chữ nhỏ mà anh đã gò lưng, tẩn mẩn khắc từng nét: "Yêu nhớ tặng
Thu, con của ba". Cây lược ngà ấychưa chải được mái tóc của con, nhưng nó như
gỡ rối được phần nào tâm trạng của anh. Những đêm nhớ con, anh ít nhớ đến nỗi
hối hận đánh con, nhớ con, anh lấy cây lược ra ngắm nghía rồi mài lên tóc cho cây
lược thêm bóng, thêm mượt. Có cây lược, anh càng mong gặp lại con. Nhưng rồi một chuyện không may xảy ra. Một ngày cuối năm năm mươi tám, năm đó ta chưa
võ trang - trong một trận càn lớn của quân Mỹ - ngụy, anh Sáu bị hy sinh. Anh bị
viên đạn của máy bay Mỹ bắn vào ngực. Trong giờ phút cuối cùng, không còn đủ
sức trăng trối lại điều gì, hình như chỉ có tình cha con là không thể chết được, anh
đưa tay vào túi, móc cây lược, đưa cho tôi và nhìn tôi một hồi lâu. Tôi không đủ lời
lẽ để tả lại cái nhìn ấy, chỉ biết rằng, cho đến bây giờ, thỉnh thoảng tôi cứ nhớ lại
đôi mắt của anh.
- Tôi sẽ mang về trao tận tay cho cháu.
Tôi cúi xuống nhìn anh và khẽ nói. Ðến lúc ấy, anh mới nhắm mắt đi xuôi.
D. Củng cố
- Giáo viên ôn lại phương pháp làm bài
- Học sinh luyện các dạng đề thông qua một đề thi tổng hợp.
I. PHẦN ĐỌC - HIỂU (4,0 điểm)
Đọc ngữ liệu sau và trả lời các câu hỏi bên dưới:
Hãy sống mỗi ngày như bông hoa hướng dương .Trong muôn nghìn bông hoa
rực rỡ ấy có một bông hoa tên là hướng dương. Hoa hướng dương cũng mang trong
tim một tình yêu cháy bỏng với mặt trời. Hoa quyết định nhuộm vàng mình, cũng
như luôn vươn cao mình hướng về mặt trời mặc cho những lời đường mật của ong
bướm, lời thì thầm của làn gió và sự dịu dàng của mây; mặc cho những tia nắng
chói chang nóng rát chiếu vào hoa vẫn vàng tươi và tràn đầy sức sống.
Hoa hướng dương được tượng trưng cho sự tích cực, vươn lên luôn hướng ra
ánh sáng. Chính vì thế mà hoa hướng dương luôn mang màu vàng ấm áp thắp sáng
những nơi tối tăm cho cuộc sống thêm tươi mới và đầy sức sống. Hãy luôn nhìn vào
điểm tích cực của cuộc sống, giống như hoa hướng dương luôn hướng về phía mặt
trời chứ không phải những đám mây đen.
Trong cuộc sống rồi ai cũng sẽ có lúc cảm thấy cô đơn, mệt mỏi nhưng bạn
hãy nhớ rằng có khó khăn, nghịch cảnh luôn luôn tồn tại trong cuộc sống này để thử
thách bản lĩnh, nghị lực và ý chí của mỗi chúng ta. Nên hãy luôn hướng về những
điều tốt đẹp như bông hoa hướng dương hướng về mặt trời nhé!
(Nguồn Internet)
Câu 1(0,5 điểm): Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản trên.
Câu 2(1,0 điểm): Xét theo mục đích nói thì câu: Hãy luôn nhìn vào điểm tích cực
của cuộc sống, giống như hoa hướng dương luôn hướng về phía mặt trời chứ
không phải những đám mây đen.
Câu văn trên thuộc kiểu câu gì?
Câu 3(1,5 điểm): Chỉ ra và Phân tích giá trị biểu đạt của các biện pháp tu từ trong
đoạn văn thứ nhất của ngữ liệu trên.
Câu 4; Xác định các phép liên kết có trong đoạn trích Câu 5 (1,0 điểm): Qua hình ảnh hoa hướng dương, tác giả muốn gửi tới chúng ta
thông điệp gì?
Câu 6:
Câu II. (2,0 điểm):
Viết đoạn văn nêu suy nghĩ của em về niềm tin đối với bản thân.
Câu III. Phân tích đoạn thơ sau: Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa
-------------------------------------------
Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế
==========================================================
File đính kèm:
giao_an_day_them_ngu_van_9_chuyen_de_2_nghi_van_hoc_cau_3.pdf



