Giáo án dạy thêm Ngữ văn 9 - Buổi 22-26: Luyện đề, rèn kĩ năng làm bài thi
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Giáo án dạy thêm Ngữ văn 9 - Buổi 22-26: Luyện đề, rèn kĩ năng làm bài thi, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
BUỔI 22, 23,24,25,26 : LUYỆN ĐỀ, RÈN KỸ NĂNG LÀM BÀI THI
Mục tiêu cần đạt :
1. Kiến thức: HS nắm chắc các kt đã học
2. Kỹ năng: Làm được 1 đề bài hoàn chỉnh
3. Thái độ, phẩm chất: Cảm nhận được vẻ đẹp của thơ ca, hướng tới những điều tốt đẹp
trong cuộc sống.
4. Năng lực Làm được 1 đề bài hoàn chỉnh có đủ 3 phần.
ĐỀ TÂN YÊN
Phần I. Đọc hiểu (4,0 điểm). Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:
“Gieo hạt lúa vàng vào đất
Được cả trăm hạt lúa vàng
Trăm hạt đem gieo vào đất
Được cả mùa vàng mênh mang
Mẹ gieo một nắm hạt cải
Mà được cả vườn hoa vàng
Gọi về bầy chim và nắng
Nắng trải, chim đùa ríu ran
Mẹ ơi! Phép màu nào nhỉ?
Bé hỏi, mẹ tủm tỉm cười
“Những gì tay người gieo xuống
Đất sẽ thực hành phép nhân”.
(Phép nhân, trích tập thơ Điều bí mật trong vườn, Nguyễn Quốc Vương, NXB Văn học,
tr.46)
Câu 1. Xác định thể thơ của bài thơ trên.
Câu 2. Tìm các từ láy có trong bài thơ Phép nhân.
Câu 3. Chỉ ra cách gieo vần trong khổ thơ thứ nhất:
“Gieo hạt lúa vàng vào đất
Được cả trăm hạt lúa vàng
Trăm hạt đem gieo vào đất
Được cả mùa vàng mênh mang”
Câu 4. Nêu tác dụng của biện pháp tu từ nhân hóa được sử dụng trong câu thơ sau:
“Nắng trải, chim đùa ríu ran”
Câu 5. Em hãy giải thích từ “phép nhân” trong câu thơ sau:
“Những gì tay người gieo xuống
Đất sẽ thực hành phép nhân”.
Câu 6. Qua bài thơ trên, em rút ra thông điệp nào có ý nghĩa nhất, vì sao?
Phần II. Làm văn (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm). Em hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của
sự cho đi trong cuộc sống.
Câu 2 (4,0 điểm). Cảm nhận của em về đoạn văn sau: “Đến lúc chia tay, mang ba lô lên vai, sau khi bắt tay hết mọi người, anh Sáu mới
đưa mắt nhìn con, thấy nó đứng trong góc nhà.
Chắc anh cũng muốn ôm con, hôn con, nhưng hình như cũng sợ nó giẫy lên lại bỏ
chạy, nên anh chỉ đứng nhìn nó. Anh nhìn với đôi mắt trìu mến lẫn buồn rầu. Tôi thấy đôi
mắt mênh mông của con bé bỗng xôn xao.
- Thôi! Ba đi nghe con! – Anh Sáu khe khẽ nói.
Chúng tôi, mọi người – kể cả anh, đều tưởng con bé sẽ đứng yên đó thôi. Nhưng thật
lạ lùng, đến lúc ấy, tình cha con như bỗng nổi dậy trong người nó, trong lúc không ai
ngờ đến thì nó bỗng kêu thét lên:
- Ba a a ba!
Tiếng kêu của nó như tiếng xé, xé sự im lặng và xé cả ruột gan mọi người, nghe thật
xót xa. Đó là tiếng “ba” mà nó cố đè nén trong bao nhiêu năm nay, tiếng “ba” như vỡ
tung ra từ đáy lòng nó, nó vừa kêu vừa chạy xô tới, nhanh như một con sóc, nó chạy thót
lên và dang hai tay ôm chặt lấy cổ ba nó. Tôi thấy làn tóc tơ sau ót nó như dựng đứng
lên.
Nó vừa ôm chặt lấy cổ ba nó vừa nói trong tiếng khóc:
- Ba! Không cho ba đi nữa! Ba ở nhà với con!
Ba nó bế nó lên. Nó hôn ba nó cùng khắp. Nó hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn cả vết thẹo dài
bên má của ba nó nữa.”
(Trích, Chiếc lược ngà, Nguyễn Quang Sáng, SGK Ngữ văn 9, tập 1, NXB Giáo dục
Việt Nam, tr.198)
------------------Hết------------------
Phần Câu Nội dung Điểm
Thực hiện các yêu cầu sau khi đọc đoạn trích. 4,0
1 - Thể thơ: 6 chữ 0,5
ĐỌC Hướng dẫn chấm:
HIỂ Học sinh trả lời như đáp án: 0,5 điểm
U Học sinh trả lời khác đáp án hoặc không trả lời: 0,0 điểm
2 - Các từ láy có trong bài thơ: mênh mang, ríu ran, tủm tỉm 0,5
Hướng dẫn chấm:
Học sinh trả lời như đáp án, hoặc 2/3 từ như đáp án: 0,5 điểm
Học sinh trả lời được 1 từ láy: 0,25 điểm.
Học sinh trả lời khác đáp án hoặc không trả lời: 0,0 điểm
3 - Gieo vần trong khổ thơ đầu: 1.0
+ Gieo vần chân (0.5)
+ Vần được gieo là: vần ất (đất - đất), vần ang (vàng - mang) (0.5)
Hướng dẫn chấm:
- Học sinh trả lời như đáp án: 1,0 điểm.
- Học sinh trả lời đúng ý 1 và 01 ý của ý 2 như đáp án: 0,75 điểm.
- Học sinh trả lời đúng 01 ý của ý 2 như đáp án được: 0,25 điểm. Phần Câu Nội dung Điểm
- Học sinh trả lời không đúng hoặc không trả lời: 0,0 điểm.
4 - Biện pháp tu từ nhân hóa: “chim đùa” 0,25
- Tác dụng:
+ Biện pháp tu từ nhân hóa làm cho câu thơ thêm sinh động, giàu hình 0,75
ảnh và có hồn hơn.
+ Làm nổi bật hình ảnh của những chú chim đùa vui, tinh nghịch như
những đứa trẻ thơ thơ. Gợi ra không gian tràn ngập âm thanh tươi vui và
nắng vàng rực rỡ rất đẹp và sinh động.
+ Tâm hồn rộng mở và khả năng quan sát tinh tế của nhà thơ.
Hướng dẫn chấm:
- Chỉ ra được biện pháp tu từ nhân hóa: 0,25 điểm.
- Nêu tác dụng:
+ Học sinh nêu đúng mỗi ý: 0,25 điểm.
+ Học sinh không nêu được tác dụng hoặc trả lời không thuyết phục: 0,0
điểm.
(Học sinh có câu trả lời với cách diễn đạt tương đương được điểm tối đa
khi đúng ý)
5 - Nghĩa của từ “phép nhân” trong câu thơ là khả năng làm cho vạn vật 0.5
sinh sôi nảy nở và phong phú thêm.
- Nghĩa cả câu thơ nói tới mối quan hệ giữa con người và đất, đề cao vai
trò của đất mẹ đối với sự sống của vạn vật và con người.
Hướng dẫn chấm:
Học sinh trả lời như đáp án: 0,5 điểm
Học sinh trả lời được 01 ý: 0,25 điểm.
Học sinh trả lời khác đáp án hoặc không trả lời: 0,0 điểm
(Học sinh có câu trả lời với cách diễn đạt tương đương được điểm tối đa
khi đúng ý)
6 - Học sinh rút ra bài học 0,25
- Lí giải thuyết phục, hợp lí. 0,25
(Giáo viên linh hoạt cho điểm theo quan điểm và cách lập luận của học
sinh nhưng cần đảm bảo tính phù hợp với văn bản và đạo đức)
Ý nghĩa của sự cho đi trong cuộc sống. 2,0
LÀM 1 a. Đảm bảo cấu trúc, dung lượng của một đoạn văn nghị luận theo yêu cầu. 0,25
VĂN b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Ý nghĩa của sự cho đi trong cuộc sống 0,25 Phần Câu Nội dung Điểm
c. Triển khai vấn đề: Vận dụng tốt các thao tác lập luận để triển khai vấn đề, 1,0
biết cách đưa dẫn chứng phù hợp, rút ra bài học nhận thức và hành động. Thí
sinh có thể viết theo nhiều cách. Dưới đây là một số gợi ý cơ bản nhằm định
hướng chấm bài:
- Sự cho đi: là cách sống sẵn sàng chia sẻ, giúp đỡ người khác mà không
toan tính, không vụ lợi và không cầu nhận lại.
- Ý nghĩa của sự cho đi trong cuộc sống:
+ Bản thân người biết cho đi luôn sống tốt, nhân ái với mọi người, biết
giúp đỡ và chia sẻ ... nên được mọi người yêu mến, nể trọng, luôn thấy
hạnh phúc và bình an trong tâm hồn.
+ Sự cho đi giúp người được nhận vượt qua khó khăn, có thêm niềm tin
vào cuộc sống, sống tốt hơn...
+ Mọi người sống biết cho đi sẽ tạo ra cộng đồng nhân văn và hạnh
phúc...
d. Sáng tạo: Cách diễn đạt độc đáo, có suy nghĩ riêng, phù hợp với chuẩn 0,25
mực đạo đức và thuần phong mĩ tục.
e. Chính tả: Đảm bảo những quy tắc về chuẩn chính tả, ngữ pháp,... 0,25
Cảm nhận về đoạn văn trong truyện ngắn “Chiếc lược ngà” của 4,0
2 Nguyễn Quang Sáng:
a. Đảm bảo cấu trúc của một bài văn nghị luận đủ ba phần: Mở bài, 0,25
Thân bài, Kết bài.
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Tình cảm của bé Thu và ông Sáu khi 0,5
bé Thu nhận ba trước lúc ông Sáu lên đường trở lại chiến khu trong tác
phẩm Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng.
c. Triển khai vấn đề nghị luận: Vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết
hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng. Thí sinh có thể triển khai vấn đề
nghị luận theo nhiều cách, sau đây là một số gợi ý:
* Giới thiệu tác giả, tác phẩm, vị trí của đoạn trích. 0,5
* Về nội dung: Tình cha con sâu nặng được bộc lộ chân thật và xúc động 1,0
trong đoạn trích:
- Bối cảnh: Trong suốt mấy ngày ông Sáu ở nhà, bé Thu đã không nhận
ba, vì bé thấy ông Sáu có vết thẹo dài trên má. Sau khi được bà ngoại giải
thích, bé Thu đã hiểu ra và chấp nhận người ba của mình.
- Tâm trạng của bé Thu: im lặng chờ đợi sự quan tâm của người cha; khi
nghe câu chào của ba, bé Thu bật lên tiếng gọi thiết tha, cảm xúc nghẹn
ngào, ôm hôn người cha yêu quý và muốn níu giữ ba ở bên mình... Tình
yêu thương ba được bộc lộ chân thật nhất, sâu sắc nhất, hồn nhiên nhất
của một đứa trẻ.
- Phản ứng và tâm trạng của ông Sáu: Thương con, e sợ con giận mình
nên không dám lại gần con và vỡ òa hạnh phúc, nghẹn ngào xúc động khi 0,5
nghe con gọi tiếng “Ba”. Phần Câu Nội dung Điểm
* Về nghệ thuật: Xây dựng tình huống truyện độc đáo; miêu tả tâm lí sâu
sắc; nghệ thuật dựng đối thoại; ngôn ngữ mộc mạc, giản dị, đậm chất 0,5
Nam bộ; giọng điệu nghẹn ngào, thiết tha, sâu lắng.
* Đánh giá, mở rộng: khái quát ý nghĩa của đoạn trích và có liên hệ phù
hợp.
d. Sáng tạo: Có cách diễn đạt độc đáo; suy nghĩ, kiến giải mới mẻ. 0,5
e. Chính tả: Đảm bảo những quy tắc về chuẩn chính tả, ngữ pháp,... 0,25
Tổng điểm 10,0
ĐỀ YÊN THẾ
Câu 1. (4.0 điểm)
Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi bên dưới:
Tôi yêu chuyện cổ nước tôi
Vừa nhân hậu lại tuyệt vời sâu xa
Thương người rồi mới thương ta
Yêu nhau dù mấy cách xa cũng tìm
Ở hiền thì lại gặp hiền
Người ngay thì gặp người tiên độ trì
Mang theo chuyện cổ tôi đi
Nghe trong cuộc sống thầm thì tiếng xưa
Vàng cơn nắng, trắng cơn mưa
Con sông chảy có rặng dừa nghiêng soi
Đời cha ông với đời tôi
Như con sông với chân trời đã xa
Chỉ còn chuyện cổ thiết tha
Cho tôi nhận mặt ông cha của mình
Rất công bằng, rất thông minh
Vừa độ lượng lại đa tình, đa mang.
(Trích Chuyện cổ nước mình, Lâm Thị Mỹ Dạ , Ngữ văn 6, tập 1, NXB Giáo dục 2022,
tr.93-94) a. Chỉ ra từ láy, từ ghép trong các từ sau: chân trời, thiết tha, nhân hậu, thầm thì.
b. Hãy tìm một câu tục ngữ, ca dao được gợi ra từ sáu câu thơ đầu trong đoạn thơ?
c. Từ “độ lượng” trong câu thơ: Vừa độ lượng lại đa tình, đa mang có nghĩa là gì?
d. Xác định biện pháp tu từ trong câu thơ sau và phân tích hiệu quả của việc sử dụng biện
pháp tu từ đó:
Đời cha ông với đời tôi
Như con sông với chân trời đã xa
Chỉ còn chuyện cổ thiết tha
Cho tôi nhận mặt ông cha của mình
e. Vì sao tác giả yêu những câu chuyện cổ nước mình?
f. Theo em, chúng ta cần làm gì để lưu giữ được kho tàng văn học dân gian Việt Nam?
(Nêu ít nhất hai việc làm)
Câu 2. (2.0 điểm)
Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) bày tỏ suy nghĩ của em về ý nghĩa việc bảo tồn những di
sản văn hóa truyền thống của dân tộc.
Câu 3. (4.0 điểm) Phân tích đoạn thơ sau:
Ngửa mặt lên nhìn mặt
có cái gì rưng rưng
như là đồng là bể
như là sông là rừng
Trăng cứ tròn vành vạnh
kể chi người vô tình
ánh trăng im phăng phắc
đủ cho ta giật mình.
TP. Hồ Chí Minh, 1978
(Trích Ánh trăng, Nguyễn Duy,Ngữ văn 9, tập 1, NXB Giáo dục, 2020, tr.156)
Câu Ý Nội dung Điểm
Thực hiện các yêu cầu sau khi đọc văn bản 4.0
a - HS chỉ ra: 0.5
+ Từ láy: thiết tha, thầm thì.
1
+ Từ ghép: chân trời, nhân hậu. 0.25
- HS không làm, hoặc làm sai. 0.25
0 Câu Ý Nội dung Điểm
B - HS tìm một câu tục ngữ, ca dao được gợi ra từ sáu câu thơ đầu 0.5
trong đoạn thơ: + Thương người như thể thương thân.
+ Ở hiền gặp lành
- HS làm sai hoặc không làm.
0
c - HS trả lời được: 0.5
Từ “độ lượng” trong câu thơ: Vừa độ lượng lại đa tình, đa mang
có nghĩa là: rộng lượng, dễ thông cảm với người có sai lầm và dễ
tha thứ.
- HS không làm hoặc làm sai 0
d - Mức tối đa: HS Xác định được biện pháp tu từ so sánh: Đời cha 1.0
ông với đời tôi như con sông với chân trời đã xa
- Tác dụng: Làm nổi bật khoảng cách xa xôi của thế hệ cha ông
với con cháu. Đó là một khoảng cách xa vời vợi. Thế nhưng
khoảng cách đó đã được nối liền bởi những câu chuyện cổ dân
gian, “đời cha ông với đời tôi” tưởng rất xa mà lại hóa gần. Qua đó
thể hiện sự biết ơn của thế hệ con cháu đời sau với thế hệ cha ông 0.75
cùng với đó là tình yêu, trân trọng chuyện cổ, tự hào về vẻ đẹp của
quê hương, đất nước. Biện pháp tu từ so sánh tạo nhịp điệu sâu
lắng, tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt. 0.5
- HS xác định đúng biện pháp tu từ, dấu hiệu của biện pháp tu từ và
nêu tác dụng nhưng chưa đủ ý hoặc xác định đúng biện pháp tu từ
nhưng không nêu được dấu hiệu của biện pháp tu từ và nêu đầy đủ 0.25
tác dụng.
- HS chỉ xác định biện pháp tu từ và dấu hiệu của biện pháp tu từ. 0
- HS chỉ xác định biện pháp tu từ
- HS làm sai hoặc không làm.
e - HS có thể trả lời :Tác giả yêu những câu chuyện cổ nước mình vì: 1.0
+ Vì những câu chuyện cổ nước mình có nội dung hay, chứa đựng
nhiều bài học ý nghĩa, sâu sắc.
+ Vì nó giúp ta hiểu được những phẩm chất quý báu của cha ông:
Công bằng, thông minh, độ lượng, biết đấu tranh vì lẽ phải, công
bằng.
+ Vì nó truyền cho đời sau nhiều lời dăn dạy quý báu của cha ông:
Nhân hậu, ở hiền gặp lành, ...
- Mức chưa tối đa:
+ HS đưa ra hai lí do, diễn đạt mạch lạc.
+ HS đưa ra hai lí do, diễn đạt không mạch lạc; HS đưa ra một lí 0.75
do, diễn đạt mạch lạc. 0.5 Câu Ý Nội dung Điểm
- Mức không đạt: HS không làm hoặc đưa ra bài học không phù 0
hợp với nội dung văn bản.
f - HS có thể chia sẻ: hai việc làm gì để lưu giữ được kho tàng văn 0.5
học dân gian: sưu tầm, tìm đọc những tác phẩm văn học dân gian;
có ý thực vận dụng những câu ca dao, tục ngữ vào giao tiếp; lấy
những bài học trong các câu chuyện cổ tích làm bài học để trau
dồi bản thân....
Ý nghĩa của việc bảo tồn những di sản văn hóa truyền thống của dân 2.0
2 tộc
a. Đảm bảo cấu trúc, dung lượng của một đoạn văn nghị luận theo yêu 0.25
cầu.
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Ý nghĩa của việc bảo tồn di sản văn 0.25
hóa của dân tộc.
c. Triển khai vấn đề: Vận dụng tốt các thao tác lập luận để triển khai
vấn đề, rút ra bài học nhận thức và hành động. Lập luận chặt chẽ, biết
kết hợp lí lẽ và dẫn chứng. Học sinh có thể viết theo nhiều cách. Dưới 1.0
đây là một số gợi ý cơ bản nhằm định hướng chấm bài:
* Giải thích:
- Di sản văn hóa truyền thống là tất cả những giá trị vật chất và tinh
thần cao đẹp mà các thế hệ cha ông truyền lại.
- Bảo tồn những di sản văn hóa truyền thống là việc làm bảo vệ,
giữ gìn và phát huy để những giá trị đó không bị mai một đi theo
thời gian.
* Bàn luận về vai trò của việc bảo tồn những di sản văn hóa truyền
thống của dân tộc:
+ Đó là nơi lưu giữ kí ức dân tộc, có tác dụng giáo dục truyền
thống “uống nước nhớ nguồn” cho thế hệ sau.
+ Việc bảo tồn di sản văn hóa còn thể hiện sự tôn trọng và trân
trọng công sức của ông cha ta.
+ Bảo tồn những di sản văn hóa truyền thống sẽ tạo nên sức mạnh
gắn kết cộng đồng; giúp tạo ra “gương mặt” riêng để ta phân biệt
sự khác nhau giữa dân tộc này với dân tộc khác trong cộng đồng
nhân loại.
+Bảo tồn di sản văn hóa góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam
tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và làm phong phú kho tàng di sản
văn hóa thế giới.
+ Là tiềm năng để phát triển du lịch, kinh tế .
* Mở rộng Câu Ý Nội dung Điểm
- Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một bộ phận những người trẻ có
tư tưởng sính ngoại, coi thường văn hóa truyền thống. Hoặc, có
những người lại có quan điểm sai lệch về bảo tồn những di sản văn
hóa, cố thủ sự lạc hậu.
* Bài học
+ Tìm hiểu những bản sắc văn hóa vốn có của dân tộc, giữ gìn và
phát huy những giá trị đó với bạn bè năm châu.
+ Mỗi chúng ta cần có ý thức giữ gìn và phát huy những truyền
thống đó để nó ngày càng đẹp đẽ và phát triển rộng rãi hơn.
d. Sáng tạo: Cách diễn đạt độc đáo, có suy nghĩ riêng, sáng tạo. 0.25
e. Chính tả: Đảm bảo những quy tắc về chuẩn chính tả, ngữ pháp,... 0.25
Phân tích đoạn thơ trong bài “Ánh trăng” của Nguyễn Duy 4.0
3 a. Đảm bảo cấu trúc của một bài văn nghị luận: Có đủ Mở bài, 0.5
Thân bài, Kết bài. Mở bài giới thiệu được vấn đề, Thân bài triển
khai được vấn đề, Kết bài khái quát được vấn đề.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: đặc sắc nội dung và nghệ 0.25
thuật của đoạn thơ.
c. Triển khai vấn đề nghị luận: 2.5
Vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và
dẫn chứng. Học sinh có thể triển khai vấn đề nghị luận theo nhiều
cách nhưng về cơ bản, cần làm nổi bật được đặc sắc nội dung và
nghệ thuật của đoạn thơ.
* Giới thiệu tác giả, tác phẩm, đoạn thơ.
* Phân tích đoạn thơ: 0.25
- Về nội dung:
Đoạn thơ cho ta thấy sự thức tỉnh của con người. Lời nhắn gửi
con người không được lãng quên quá khứ gian khổ mà sâu đậm
nghĩa tình. Lời nhắc nhở về nghĩa tình thiêng liêng của nhân dân,
đất nước và đạo lí uống nước nhớ nguồn. 1.5
- Về nghệ thuật: thể thơ ngũ ngôn với nhiều sáng tạo độc đáo; sự
kết hợp hài hòa giữa chất tự sự và trữ tình; ngôn ngữ, hình ảnh giản
dị, gần gũi mà giàu sức gợi; giọng điệu tâm tình thấm thía, khi thì 0.5
thiết tha cảm xúc, lúc lại trầm lắng, suy tư; biện pháp tu từ điệp
ngữ, liệt kê, so sánh, ẩn dụ,.....
* Đánh giá: giá trị, ý nghĩa đoạn thơ. 0.25
d. Sáng tạo: Có cách diễn đạt độc đáo, suy nghĩ mới mẻ, sâu sắc về 0.5
vấn đề nghị luận.
e. Chính tả, ngữ pháp: Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp, ngữ 0.25
nghĩa tiếng Việt. Câu Ý Nội dung Điểm
Tổng điểm 10.0
ĐỀ LẠNG GIANG NGÀY 15/4
Câu 1 (4,0 điểm).
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
Một chàng trai quyết định hiện thực hóa ước mơ của mình. Nhưng anh ta không đủ mạnh
mẽ để thực hiện điều đó. Anh ta đến bên mẹ:
- Mẹ ơi, giúp con với!
- Con trai, mẹ sẵn sàng giúp con, nhưng mẹ không thể. Mọi thứ mẹ có, mẹ đã cho con
rồi. Chàng trai đến gặp một nhà thông thái:
- Thưa ngài, hãy chỉ cho tôi, ở đâu tôi có thể tìm ra sức mạnh để biến ước mơ của mình
thành hiện thực?
- Người ta bảo trên ngọn Everest ấy. Ta đã tới nhưng không tìm thấy gì ngoài những cơn
gió tuyết lạnh. Và khi ta trở về, thời gian đã mất không lấy lại được...
Chàng trai đi hỏi rất nhiều người nữa, nhưng kết quả của hành trình đi tìm sức mạnh vẫn
chỉ là sự hoang mang.
- Tại sao cháu có vẻ lo lắng vậy? Một ông lão đi ngang qua hỏi chàng trai.
- Cháu có một ước mơ, ông ạ. Nhưng cháu không biết lấy đâu ra sức mạnh để thực hiện
ước mơ ấy. Cháu đã hỏi khắp rồi nhưng không ai có thể giúp cháu.
- Không ai à, ông lão nháy mắt, cháu đã hỏi bản thân mình chưa?
(Theo Bạn chỉ sống có một lần, Bộ sách Keep Calm, Nhã Nam tuyển chọn, NXB Trẻ
2017)
a. Trong văn bản trên có bao nhiêu lượt lời?
b. Chỉ ra một phép liên kết có trong đoạn văn sau:
“Cháu có một ước mơ, ông ạ. Nhưng cháu không biết lấy đâu ra sức mạnh để thực hiện
ước mơ ấy. Cháu đã hỏi khắp rồi nhưng không ai có thể giúp cháu.”
c. Xác định thành phần nòng cốt của câu: “Một chàng trai quyết định hiện thực hóa ước
mơ của mình.”
d. Em hiểu như thế nào về lời của ông lão: “Cháu đã hỏi bản thân mình chưa?” e. Nêu 02 khó khăn mà mỗi người có thể gặp trong quá trình thực hiện ước mơ?
f. Từ nội dung văn bản trên em rút ra bài học gì cho bản thân?
Câu 2 (2,0 điểm).
Viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) bàn về sức mạnh của niềm tin vào bản thân mỗi
người.
Câu 3 (4,0 điểm). Cảm nhận của em về đoạn thơ sau:
Mặt trời xuống biển như hòn lửa.
Sóng đã cài then, đêm sập cửa.
Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi,
Câu hát căng buồm cùng gió khơi.
[...]
Câu hát căng buồm với gió khơi,
Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời.
Mặt trời đội biển nhô màu mới,
Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi.
(Huy Cận – Đoàn thuyền đánh cá, SGK Ngữ văn 9, tập 1, NXB GD Việt Nam)
Câu Phần Yêu cầu Điểm
Về văn bản trích trong “Bạn chỉ sống có một lần” 4.0
a - Văn bản có 7 lượt lời 0.5
b - HS xác định được 1 trong các phép liên kết, chỉ ra dấu hiệu: 0.5
+ Phép thế: “ước mơ ấy” ở câu 2 thế cho “một một ước mơ” ở
câu 1.
1 + Phép nối: Nhưng
+ Phép lặp “cháu”, “ước mơ”
- Hs chỉ ra được phép liên kết hoặc chỉ ra được từ liên kết 0.25
- Hs không làm hoặc làm sai 0
c - Xác định thành phần nòng cốt của câu: “Một chàng trai quyết 0. 5
định hiện thực hóa ước mơ của mình.”
Chủ ngữ: Một chàng trai
Vị ngữ: quyết định hiện thực hóa ước mơ của mình 0
- Hs không làm hoặc làm sai d - Lời của nhân vật ông lão có thể hiểu như sau: 1.0
+ Chỉ có bản thân chúng ta mới hiểu sức mạnh hiện thực hóa ước
mơ của bản thân nằm ở đâu
+ Sức mạnh không phải ở đâu xa, không phải yếu tố bên ngoài mà
là sức mạnh tiềm tàng trong mỗi chúng ta. Hãy tìm sức mạnh ở
chính bản thân mình và phát huy nó. Cần có niềm tin vào bản thân
- HS trả lời 1 ý 0.5
- Hs không làm hoặc làm sai 0
e - HS có thể nêu các lí do sau: 0.5
+ Mơ ước của bản thân không được mọi người xung quanh ủng hộ
+ Khi thực hiện các ước mơ gặp phải trắc trở về sức khỏe, tiền bạc,
+ Thiếu ý chí, nghị lực, mất niềm tin vào bản thân
- HS có thể diễn đạt khác nhưng hợp lí vẫn cho điểm. HS trình
bày được 2 ý trở lên cho 0.5 điểm. Chỉ nêu được 1 ý cho 0.25
điểm. Không làm thì không có điểm
f - Viết được đoạn văn với yêu cầu:
+ Đúng hình thức, yêu cầu dung lượng của đoạn văn, diễn đạt 0.25
mạch lạc.
- Học sinh có thể rút ra bài học sâu sắc nhất và lí giải thuyết phục
trong những bài học sau: 0.75
+ Trong cuộc sống, con người cần có ước mơ, khát vọng, bởi nó
không chỉ là đích đến mà còn mang lại sức mạnh cho con người;
Để hiện thực hóa ước mơ, cần biết phát huy sức mạnh nội tại của
bản thân, không trông chờ, ỷ lại, ...
Đoạn văn bàn về sức mạnh của niềm tin vào bản thân mỗi 2.0
người.
a. Đảm bảo cấu trúc, dung lượng của một đoạn văn nghị luận theo 0.25
yêu cầu.
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: sức mạnh của niềm tin vào bản 0.25
thân
c. Triển khai vấn đề: Vận dụng tốt các thao tác lập luận để triển
khai vấn đề, rút ra bài học nhận thức và hành động. Lập luận chặt
chẽ, biết kết hợp lí lẽ và dẫn chứng. Học sinh có thể viết theo 1.0
nhiều cách nhưng cần làm nổi bật được vấn đề nghị luận. Có thể
2 triển khai theo hướng sau:
- Giải thích: Niềm tin là sự tin tưởng, tự tin vào bản thân mình
cũng như sự lạc quan, luôn tin tưởng vào cuộc sống, sống tích cực
và luôn hi vọng cuộc sống sau này sẽ tốt hơn. Người sống có niềm
tin là những người sống lạc quan, có ước mơ, lí tưởng sống.
- Vì sao niềm tin mang lại sức mạnh cho con người?
+ Sự tự tin sẽ giúp bản thân thoát khỏi tự ti, hoài nghi về bản thân
và từ đó vươn lên, đạt được những thành công rực rỡ.
+ Niềm tin sẽ biến thành động lực sống, giúp con người làm việc hiệu quả hơn; vượt lên mọi thử thách và trưởng thành hơn,
+ Niềm tin giữa con người với con người là nền tảng tạo lập nên
một cuộc sống giàu tình yêu thương
(HS đưa dẫn chứng phù hợp, tiêu biểu để làm rõ vấn đề)
- Mở rộng:
+ Phê phán những người sống trong sự tự ti, hoài nghi những khả
năng của bản thân, lại có những người chỉ biết nghe theo sự sắp
đặt, định hướng của người khác mà không có chính kiến của mình,
lại có những người quá tự tin dẫn tới tự cao, ảo tưởng về bản
thân
- Bài học: Bản thân có những hành động cụ thể thể hiện sự tự tin
để thực hiện ước mơ, biến ước mơ thành sự thực...
d. Sáng tạo: Có cách diễn đạt độc đáo, suy nghĩ mới mẻ, sâu sắc 0.25
về vấn đề nghị luận.
e. Chính tả, ngữ pháp: Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp, ngữ 0.25
nghĩa tiếng Việt.
Viết bài văn nghị luận về khổ thơ đầu và cuối trong bài “Đoàn 4.0
thuyền đánh cá” của Huy Cận.
a. Đảm bảo cấu trúc của một bài văn nghị luận: Có đủ Mở bài, 0.25
Thân bài, Kết bài. Mở bài giới thiệu được vấn đề, Thân bài triển
khai được vấn đề, Kết bài khái quát được vấn đề.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Cảnh đoàn thuyền đánh cá 0.25
ra khơi trong buổi hoàng hôn và trở về lúc bình minh.
c. Triển khai vấn đề nghị luận: Vận dụng tốt các thao tác lập luận,
kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng. Học sinh có thể trình bày
theo nhiều cách nhưng về cơ bản cần đảm bảo những nội dung 0.25
sau:
* Giới thiệu tác giả, tác phẩm, và giới hạn đoạn thơ cần phân 1.0
tích.
3 * Triển khai các ý chính:
* Luận điểm 1: Cảnh đoàn thuyền đánh cá ra khơi trong buổi
hoàng hôn:
- Biện pháp tu từ so sánh "Mặt trời xuống biển như hòn lửa":
Cảnh mặt trời rực rỡ đang dần chìm vào đại dương bao la.
- Biện pháp tu từ nhân hóa "Sóng đã cài then, đêm sập cửa":
+ Gợi ra cảnh thiên nhiên vũ trụ như đang chìm vào trạng thái
nghỉ ngơi.
+ Khi vạn vật chìm vào giấc ngủ thì lại là lúc đoàn thuyền đánh 1.0
cá ra khơi.
- Từ "lại" diễn tả công việc lặp đi, lặp lại thường xuyên.
- "Câu hát căng buồm với gió khơi": Câu hát hân hoan, yêu đời
của người ngư dân với mong ước chuyến ra khơi thuận buồm
xuôi gió, thuyền về đầy ắp cá. * Luận điểm 2: Cảnh đoàn thuyền trở về lúc bình minh
- Hình ảnh câu hát được lặp lại như một điệp khúc ngân nga có
tác dụng nhấn mạnh niềm vui lao động, làm giàu quê hương của
những người dân chài.
- Đoàn thuyền như một sinh thể sống động, chạy đua với thiên
nhiên bằng tốc độ ánh sáng.
- Đoàn thuyền trở về lúc mình minh "nhô màu mới" báo hiệu
một sự sống sinh sôi, nảy nở với vô vàn niềm vui, niềm hạnh
phúc của người lao động vùng biển.
- Mắt cá lấp lánh như sao trời chính là ánh sáng của thành quả
lao động, gợi ra niềm tin, niềm hi vọng của người lao động về 0.75
tương lai tươi sáng.
* Kết luận: Khái quát lại giá trị nội dung, nghệ thuật của đoạn thơ.
* Khẳng định giá trị đoạn thơ, liên hệ.
d. Sáng tạo: Có cách diễn đạt độc đáo, suy nghĩ mới mẻ, sâu sắc 0.25
về vấn đề nghị luận.
e. Chính tả, ngữ pháp: Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp, ngữ 0.25
nghĩa tiếng Việt.
Tổng điểm 10.0
Đề
I. PHẦN ĐỌC HIỂU: (3,0 điểm)
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
Tôi đi dạo trên bãi biển khi hoàng hôn buông xuống. Biển đông người nhưng tôi
lại chú ý đến một cậu bé cứ liên tục cúi xuống nhặt thứ gì đó lên và ném xuống.
Tiến lại gần hơn, tôi thấy cậu đang nhặt những con sao biển bị thủy triều đánh dạt
lên bờ và ném chúng trở lại đại dương.
- Cháu đang làm gì vậy?
- Những con sao biển này sắp chết vì thiếu nước, cháu phải giúp chúng!
- Cháu có thấy là mình đang mất thời gian không? Có hàng ngàn con sao biển
như vậy. Cháu không thể nào giúp được tất cả chúng. Rồi chúng cũng sẽ phải chết
thôi.
Cậu bé vẫn tiếp tục nhặt một con sao biển khác và nhìn tôi mĩm cười:
- Cháu biết chứ! Nhưng cháu nghĩ mình có thể làm được điều đó, ít nhất là cứu
sống những co sao biển này.
(Theo Hạt giống tâm hồn, NXB Tổng hợp TPHCM, 2010, tr.132)
Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản trên. Đặt nhan đề cho
văn bản đó.
Câu 2. Chỉ ra phép liên kết hình thức và từ ngữ dùng để thực hiện phép liên kết
đó trong đoạn văn:
Tôi đi dạo trên bãi biển khi hoàng hôn buông xuống. Biển đông người nhưng tôi
lại chú ý đến một cậu bé cứ liên tục cúi xuống nhặt thứ gì đó lên và ném xuống. Tiến lại gần hơn, tôi thấy cậu đang nhặt những con sao biển bị thủy triều đánh dạt
lên bờ và ném chúng trở lại đại dương.
Câu 3. Em có suy nghĩ gì về câu nói của cậu bé trong câu chuyện: “- Cháu biết
chứ! Nhưng cháu nghĩ mình có thể làm được điều đó, ít nhất là cứu sống những co
sao biển này.” (Trình bày từ 03 đến 04 câu)
II. TẬP LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1: (2,0 điểm)
Dựa vào văn bản trên, hãy viết một đoạn văn nghị luận (khoảng 01 trang giấy
thi) trình bày suy nghĩ của em về chủ đề: Ý nghĩa của những điều bình dị
Câu 2: (5,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau:
[ ] Nó Nó vào làng Chợ Dầu hở bác? Thế ta giết được bao nhiêu thằng?
Người đàn bà ẵm con cong môi lên đỏng đảnh:
- Có giết được thằng nào đâu. Cả làng chúng nó Việt gian theo Tây còn giết gì
nữa!
Cổ ong lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân. Ông lão lặng đi, tưởng như
đến không thở được. Một lúc lâu ông mới rặn è è, nuốt một cái gì vướn ở cổ, ông cất
tiếng nói, giọng lạc hẳn đi:
- Liệu có thật không hở bác? Hay là chỉ lại
- Thì chúng tôi vừa ở dưới ấy lên đây mà lại. Việt gian từ thằng chủ tịch mà đi
cơ ông ạ. Tây vào làng chúng nó bảo nhau vác cờ thần ra hoan hô. Thằng chánh Bệu
thì khuân cả tủ chè, đinh đồng, vải vóc lên xe cam-nhông, đưa vợ con lên vị trí với
giặc ở ngoài tỉnh mà lại.
Có người hỏi:
- Sao bảo làng Chợ Dầu tinh thần lắm cơ mà?...
- Ấy thế mà bây giờ đổ đốn ra thế đấy!...
(Làng – Kim Lân, Ngữ Văn 9, tập 1, tr.165, NXB Giáo dục)
Cảm nhận của em về nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân
qua tình huống nghệ thuật trên.
HƯỚNG DẪN CHẤM
I. PHẦN ĐỌC HIỂU: (3,0 điểm)
Câu Nội dung
- PTBĐ chính là tự sự
1 - Nhan đề: Những con sao biển/ Hành động nhỏ ý nghĩa lớn/Những điều bình
dị/Những điều giản đơn...
- Phép lặp: từ "tôi", "ném", "biển" được lặp lại nhiều lần ở các câu văn.
2
- Phép thế: "những con sao biển" thay cho cụm từ "thứ gì đó" ở câu đứng trước
Câu nói đó thể hiện được tấm lòng cao cả, chứa đựng những tình yêu thương
3 của cậu bé. Cậu đã lan tỏa tình thương của mình đến cả những sinh vật nhỏ bé
nhất. Bằng những hành động thiết thực của mình. Tuy đó chỉ là những hành động nhỏ bé nhưng đã đem lại sự sống cho những chú sao biển. Mặc kệ sự hoài
nghi của người khác cậu vẫn quyết tâm thực hiện điều tốt của mình.
II. TẬP LÀM VĂN: (7,0 điểm)
1. Giới thiệu vấn đề: Dẫn dắt vào vấn đề cần bàn luận: ý nghĩa của những điều
bình dĩ
2. Giải thích vấn đề
- Giải thích: những điều bình dị trong cuộc sống này là gì?
- Những biểu hiện của điều bình dị trong cuộc sống (cách nghĩ, suy nghĩ, hành
động, sự vật...)
1 - Ý nghĩa to lớn của những điều bình dị đối với mỗi người (trọng tâm) (đưa ra
dẫn chứng cụ thể)
- Làm thế nào để duy trì, phát huy những điều bình dị.
- Hiện trạng xã hội hiện nay về việc đánh giá, hướng đến những điều bình dị
- Liên hệ bản thân
3. Bàn luận vấn đề:
HS khái quát lại những quan điểm của bản thân về những điều bình dị
1. Giới thiệu chung:
Dẫn dắt đi vào giới thiệu khái quát nhà văn Kim Lân, truyện ngắn Làng và
nhân vật ông Hai.
2. Phân tích
a. Giới thiệu khái quát, ngắn gọn tình cảm của ông Hai với làng
- Ông đau đáu nhớ về quê hương, nghĩ về “những ngày làm việc cùng anh em”,
ông nhớ làng
- Ông khoe về làng: giàu và đẹp, lát đá xanh, có nhà ngói san sát sầm uất như
tỉnh, phong trào cách mạng diễn ra sôi nổi, chòi phát thanh cao bằng ngọn tre
- Ông luôn đến phòng thông tin nghe ngóng tình hình về ngôi làng của mình
b. Giới thiệu khái quát, ngắn gọn tình cảm của ông Hai với đất nước, với
kháng chiến
- Ông Hai yêu nước và giàu tinh thần kháng chiến
2
Đến phòng thông tin đọc báo, nghe tin tức về kháng chiến.
Lúc nào cũng quan tâm đến tình hình chính trị thế giới, các tin chiến thắng
của quân ta
Trước những tin chiến thắng của quân ta, ruột gan cứ múa cả lên
c. Cảm nhận về ông Hai trong đoạn trích: chú trọng vào diễn biến tâm trạng
của ông Hai khi nghe tin làng của mình theo giặc (trọng tâm)
- Khi vừa nghe tin làng chợ Dầu theo giặc: khi mới nghe tin, ông sững sờ, xấu
hổ:
“Cổ họng nghẹn ắng, da mặt tê rân rân”
Lặng đi không thở được, giọng lạc đi
Lảng chuyện, cười nhạt, cúi gằm mặt xuống mà đi
⇒ Nghệ thuật miêu tả tầm lí nhân vật ⇒ bẽ bàng, xấu hổ, ê chề nhục nhã.
⇒ Nghệ thuật miêu tả tâm trạng qua hành động, thái độ, cử chỉ ⇒ Nỗi cay đắng tủi nhục, uất hận trước tin làng theo giặc
3 Tổng kết
-Khái quát lại những cảm nhận cảu em về nhân vật ông Hai
-Tổng kết những đặc sắc nghệ thuật, nội dung của đoạn trích nói riêng và cả tác
phẩm nói chung - tập trung chú ý vào nghệ thuật miêu tả diễn biến tâm lý nhân
vật.
ĐỀ
PHẦN I: ĐỌC-HIỂU (3,0 điểm)
Đọc đoạn thơ sau và trả lời các câu hỏi:
Không có gì tự đến đâu con
Quả muốn ngọt phải tháng ngày tích nhựa
Hoa sẽ thơm khi trải qua nắng lửa
Mùa bội thu trải một nắng hai sương
Không có gì tự đến, dẫu bình thường
Phải bằng cả đôi tay và nghị lực
Như con chim suốt ngày chọn hạt
Năm tháng bao dung nhưng khắc nghiệt lạ kỳ.
(Không có gì tự đến đâu con – Nguyễn Đăng
Tấn)
Câu 1. (0,5 điểm) Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ.
Câu 2. (0,5 điểm) Chỉ ra biện pháp tu từ so sánh được sử dụng trong đoạn thơ.
Câu 3. (1,0 điểm) Em hiểu như thế nào về câu thơ: Quả muốn ngọt phải tháng ngày tích
nhựa ?
Câu 4. (1,0 điểm) Em có cảm nhận gì về nỗi lòng của cha mẹ được gửi gắm qua đoạn
thơ ?
PHẦN II: LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm) Từ nội dung đoạn thơ phần Đọc – hiểu, hãy viết một đoạn văn
(khoảng 5 đến 10 câu) trình bày suy nghĩ của em về nghị lực của con người trong cuộc
sống.
Câu 2. (5,0 điểm) Cảm nhận của em về đoạn thơ sau:
Mọc giữa dòng sông xanh
Một bông hoa tím biếc
Ôi con chim chiền chiện
Hót chi mà vang trời
Từng giọt long lanh rơi
Tôi đưa tay tôi hứng.
Mùa xuân người cầm súng
Lộc giắt đầy quanh lưng Mùa xuân người ra đồng
Lộc trải dài nương mạ
Tất cả như hối hả
Tất cả như xôn xao
(Trích Mùa xuân nho nhỏ - Thanh Hải, Ngữ Văn 9,
tập hai)
PHẦN Câu Nội dung
1 - Phương thức biểu đạt: biểu cảm
So sánh hình ảnh con người tự mình làm việc bằng chính đôi bàn
tay của mình và nghị lực cố gắng, kiên trì để gặt hái những điều mình
2
muốn, với hình ảnh những chú chim chăm chỉ làm việc cả ngày để
chọn những hạt mình ưng ý nhất.
Câu nói ấy đề cập đến sự tích lũy, xây dựng từ từ, từ gốc đến ngọn.
Đây là một câu nói rất đúng. Muốn có quả ngọt, thành công, chúng ta
cần có sự kiên trì, bền bỉ để thực hiện lý tưởng, mục tiêu của mình. Bất
cứ điều gì cũng cần thời gian, cần những sự cố gắng vun đắp nên từng
chút một. Chứ không có bất cứ điều gì có thể thành công trong phút
chốc hay tự nhiên mà có được. Giống như một loại quả muốn ngọt
3
lành thì phải qua biết bao tháng ngày tích từng chút nhựa sống hấp thu
trong đất trời, con người muốn thành công thì phải tích lũy từng chút
về kiến thức, kinh nghiệm, thái độ... Rồi trái ngọt cũng sẽ xuất hiện khi
I
ta tích lũy đủ mọi thứ. Giống như các em HS tích lũy kiến thức, kinh
nghiệm làm bài trong suốt 9 năm qua để chuẩn bị cho kì thi chuyển cấp
lần này vậy.
Bài thơ là những lời khuyên nhủ, chia sẻ nhẹ nhàng, tình cảm của
bậc cha mẹ dành cho con cái mình. Rằng hãy cứ cố gắng tích lũy cho
bản thân những kiến thức kĩ năng, kinh nghiệm... cần thiết. Và hãy
kiên trì, bền bỉ đến cùng với mục tiêu, con đường của mình. Rồi thì kết
quả, trái ngọt sẽ đến với con. Đừng ham chơi, lười nhác, bỏ dở giữa
4 chừng, vì khi đó sẽ chẳng có trái ngọt nào dành cho con đâu. Vì trên
thé giới này không có gì tự nhiên mà đến cả dù là những điều nhỏ bé
nhất. Từ đó, thấy được sự quan tâm, yêu thương sâu sắc của cha mẹ
dành cho con cái. Cùng với đó là sự lo lắng cho con trước những thử
thách của cuộc đời. Và hơn cả là niềm tin tưởng trìu mến vào người
con sẽ kiên trì đến cuối cùng, trước những giây phút cam go nhất.
Ý chí nghị lực là bệ phóng đưa con người đến với thành công. Nghị
lực, ý chí chính là bản lĩnh, lòng quyết tâm vươn lên trong cuộc sống
của mỗi con người. Hãy nhìn xem, xung quanh ta là nghịch cảnh bủa
vây, luôn chực chờ để xô ta ngã. Nhưng có ý chí, nghị lực tay lái vững
II 1
vàng trước thử thách phong ba. Khó khăn cho ta kinh nghiệm; nghịch
cảnh cho ta môi trường để rèn luyện bản lĩnh. Và qua khó khăn đó ý
chí nghị lực được hình thành, tôi luyện và trở thành bộ giáp vững chắc
để ta hiên ngang giữa cuộc đời. Người có ý chí là người luôn dám đương đầu với mọi thử thách, luôn bền gan vững chí trước mọi sóng
lớn gió to. Họ sống mạnh mẽ, cứng cỏi, kiên cường; thất bại không
nản, thành công không tự mãn. Nguyễn Ngọc Ký thiếu đi đôi tay
nhưng không ngừng nỗ lực để trở thành một người thầy đáng kính,
Nick Vujicic sinh ra với tứ chi khiếm khuyết nhưng chưa một lần chịu
thua số phận, Bill Gates phá sản trong lần đầu tiên nhưng sau đó lại trở
thành tỷ phú bậc nhất của nhân loại Họ chính là những tấm gương
sáng, đem đến cho ta bài học quý báu về giá trị của ý chí, nghị lực và
sự quyết tâm. Người có ý chí nghị lực luôn được mọi người yêu quý và
trân trọng và họ luôn trở thành niềm tin, điểm tựa, thậm chí là thần
tượng để mọi người noi theo. Người có ý chí, nghị lực biết khắc phục
hạn chế của bản thân, tìm ra đường đi từ ngõ cụt, biết xuyên thủng màn
đêm của khó khăn để bước ra ánh sáng. Bởi thế ý chí nghị lực là sức
mạnh vô hạn tận giúp người sở hữu nó chiến thắng tất cả để bước tới
thành công. Vậy nhưng, trong xã hội vẫn có một số người có lối sống ỷ
lại, sống dựa dẫm, không có tinh thần phấn đấu, không ý chí tiến thủ.
Thế hệ trẻ hôm nay cần phê phán lối sống này, không ngừng rèn đức
luyện tài, nỗ lực bằng tất cả khả năng để có thể vững vàng tiến về phía
trước. Hãy luôn nhớ: nếu tri thức là sức mạnh giúp ta chiến thắng sự
ngu dốt thì ý chí nghị lực lại là vũ khí giúp ta chiến thắng mọi kẻ thù.
1. Giới thiệu chung
- Giới thiệu tác giả: Thanh Hải
+ Là nhà thơ tiêu biểu của nền thơ ca Việt Nam
+ Phong cách sáng tác
+ Tác phẩm tiêu biểu
- Giới thiệu tác phẩm: Mùa xuân nho nhỏ
+ Hoàn cảnh sáng tác
+ Nội dung, nghệ thuật
- Giới thiệu khái quát ba khổ đầu bài thơ
2. Phân tích
* Khổ thơ thứ nhất:
2 - Bức tranh thiên nhiên xứ Huế
+ Hình ảnh: dòng sông, bông hoa tím biếc, con chim chiền chiện
=> Hình ảnh đặc trưng của xứ Huế mộng mơ
=> Phải là người am hiểu sâu sắc, tường tận về Huế thì mới có thể viết
được những vần thơ chân thật, giản dị mà rất đỗi ngọt ngào đến vậy!
* Khổ thơ thứ hai:
- Khung cảnh mùa xuân của đất nước.
+ Hình ảnh: người cầm súng, người ra đồng
=> Những người rất đỗi quen thuộc trong cuộc sống của chúng ta
+ Nếu người ra đồng là người cung cấp lương thực, thực phẩm, nuôi
sống các anh bộ đội "lộc trải dài nương mạ"
+ Thì "người cầm súng" là những người có trách nhiệm to lớn trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc.
3 Tổng kết
- Khẳng định giá trị của bài thơ
- Tình cảm của em dành cho bài thơ
ĐỀ :
Thời gian làm bai: 120 phút (Không kể thời gian phát đề)
. ĐỌC HIỂU (3 ĐIỂM).
Đọc kĩ đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
Giữa năm 2015, bà Lê Thị Thảo, mẹ của Hòa, quyết định tặng thận
[ ] Tháng 3-2016, Hòa lên bàn mổ để tặng một quả thận cho một người phụ
nữ trạc tuổi mẹ mình. Người được nhận thận quê ở Hà Nam, đã bị suy thận nhiều
năm và cần được ghép thận để tiếp tục được sống.
[ ] Để tặng được quả thận, từ khi quyết định hiến tặng đến khi lên bàn mổ,
bà Thảo đã phải hơn 10 lần một mình một xe máy từ Bắc Ninh ra bệnh viện Việt
Đức ở Hà Nội để làm các xét nghiệm. Con gái bà Thảo cũng vậy, và cuối năm
2016 khi mẹ con bà được mời lên truyền hình để nói về ý nghĩa của việc hiến tặng
mô tạng, hai mẹ con lại chở nhau bằng xe máy từ Bắc Ninh lên Hà Nội rồi vội vã
trở về ngay trong đêm Nếu có ai hỏi về chuyện hiến thận đã qua, bà chỉ phẩy tay
cười: “Cứ nghĩ bình thường đi, bình thường với nhau đi, bây giờ tôi chẳng đang
rất khỏe là gì ”
Và nhờ cái “bình thường” của mẹ con bà Thảo, giờ đây có thêm hai gia đình
được hạnh phúc vì người thân của họ được khỏe mạnh trở lại. Ở Bắc Ninh, gia
đình bà Thảo cũng đang rất vui vẻ. Nỗi đau đớn của ca đại phẫu thuật đã qua đi,
giờ đây trên bụng hai mẹ con là hai vết sẹo dài, như chứng nhân về quyết định rất
đỗi lạ lùng, về việc sẵn sàng cho đi mà không băn khoăn một phần thân thể của
mình.
Có lẽ bạn đọc nghĩ rằng đó là hai con người kì lạ, nhưng khi gặp họ và trò
chuyện, chúng tôi mới thấy mẹ con bà Thảo không kì lạ chút nào, họ chỉ muốn
tặng quà một cách vô tư để nhận lại một thứ hạnh phúc tinh thần nào đó mà tôi
không thể nào định danh được!
(Trích Hai mẹ con cùng hiến thận, Lan Anh, Báo Tuổi trẻ, ngày 31/5/2018)
Câu 1: (0.5 điểm) Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích.
Câu 2: (0.5 điểm) Chỉ ra lời dẫn trực tiếp được sử dụng trong đoạn trích.
Câu 3: (1.0 điểm)
Nỗi đau đớn của ca đại phẫu thuật đã qua đi, giờ đây trên bụng hai mẹ con là
hai vết sẹo dài, như chứng nhân về quyết định rất đỗi lạ lùng, về việc sẵn sàng cho
đi mà không băn khoăn một phần thân thể của mình.
a. Xét về mặt cấu trúc, câu trên thuộc kiểu câu gì?
b. Xác định và nêu tác dụng của phép tu từ được sử dụng trong câu trên.
Câu 4: (1.0 điểm)
File đính kèm:
giao_an_day_them_ngu_van_9_buoi_22_26_luyen_de_ren_ki_nang_l.pdf



