Giáo dục công dân - Giới thiệu chung về chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương trình giáo dục phổ thông

2. Những yêu cầu cơ bản của chuẩn

2.1. Có tính khách quan, Chuẩn không lệ thuộc vào quan điểm hay thái độ chủ quan của người sử dụng Chuẩn.

2.2. Có tính ổn định, nghĩa là có hiệu lực cả về phạm vi lẫn thời gian áp dụng.

2.3. Có tính khả thi, nghĩa là Chuẩn có thể thực hiện được (Chuẩn phù hợp với trình độ hay mức độ dung hoà hợp lí giữa yêu cầu phát triển ở mức cao hơn với những thực tiễn đang diễn ra).

2.4. Có tính cụ thể, tường minh và có chức năng định lượng.

2.5. Không mâu thuẫn với các chuẩn khác trong cùng lĩnh vực hoặc những lĩnh vực có liên quan.

 

doc15 trang | Chia sẻ: thiennga98 | Ngày: 19/12/2020 | Lượt xem: 6 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Giáo dục công dân - Giới thiệu chung về chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương trình giáo dục phổ thông, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ình và khá giỏi. Vậy thì thiết kế bài học cũng phải chú ý đến cả ba đối tượng này. Hay nói khác đi, ba mức chuẩn ( tối thiểu, thông dụng và tối đa) đều phải được sử dụng, tất nhiến tỉ lệ của mỗi mức chuẩn ấy là bao nhiêu lại phụ thuộc vào trình độ cụ thể của học sinh. Ví dụ trong lớp học chỉ có 5% học sinh khá giỏi và 50% trung bình thì  chuẩn sử dụng cho bài học chủ yếu là chuẩn tối thiểu và chuẩn thông dụng. Ngược lại, nếu lớp học chỉ có 5% học sinh yếu kém, 50 % khá giỏi thì chuẩn áp dụng sẽ chủ yếu là thông dụng và tối đa.           Khi soạn câu hỏi kiểm tra và đánh giá, chúng ta vẫn thường lập ma trận, trong đó chú ý đến cả ba loại câu hỏi với các mức độ nhận biết, thông hiểu, vận dụng. Như vậy  nhận biết là mức thấp nhất có thể coi là tương đương với chuẩn tối thiểu. Thông hiểu là mức cao hơn có thể tương ứng với một phần của chuẩn tối thiểu và một phần của chuẩn thông dụng. Còn vận dụng ở mức thấp thì tương đương với một phần của chuẩn thông dụng và một phần của chuẩn tối đa. Vận dụng ở mức cao tương đương với  phần còn lại của chuẩn tối đa. Từ đây có thể dễ dàng  thấy rằng trong một bài kiểm tra hay thi, điểm 5 trên 10 là tương đương với  đạt chuẩn tối thiểu, từ  trên 5 đến 8 trên 10 tương đương với chuẩn thông dụng, từ trên 8 đến 10 tương đương với chuẩn tối đa.           Đến đây thì câu hỏi nêu ra ở phần đầu đã được trả lời. Chúng ta đã xây dựng chương trình và viết sách giáo khoa theo cả ba mức chuẩn. Chúng ta dạy học và kiểm tra đánh giá cũng kết hợp cả ba mức chuẩn. Tùy từng vùng miền, tùy từng lớp học cụ thể, người giáo viên sử dụng phối hợp tỉ lệ ba mức chuẩn đó sao cho hiệu quả nhất. Quy trình xây dựng ma trận đề và đề KT theo chuẩn KTKN Đề kiểm tra là phương tiện đánh giá kết quả học tập của HS sau khi học xong một chủ đề, một chương, một học kỳ hay toàn bộ chương trình của một lớp học, một cấp học. Để ra được một đề kiểm tra đạt yêu cầu cần đảm bảo được quy trình tối thiểu gồm 5 bước sau đây: Bước 1:  Xác định mục tiêu, phạm vi, mô tả yêu cầu cần đạt của nội dung kiểm tra theo các cấp độ (từ dễ đến khó). GV (hoặc tổ chuyên môn) phải căn cứ vào hệ thống các chuẩn kiến thức, kỹ năng được qui định trong Chương trình GDPT của môn học để mô tả yêu cầu cần đạt theo các cấp độ của tư duy. Đó là các kiến thức khoa học và cả phương pháp nhận thức chúng, các kỹ năng và khả năng vận dụng vào thực tế, những thái độ, tình cảm đối với khoa học và xã hội. - Cấp độ 1 (Nhận thức): Đó là những câu hỏi yêu cầu về kiến thức đạt ở mức độ nhận biết hoặc câu hỏi yêu cầu về kỹ năng đạt ở mức độ bắt chước làm được một việc đã học, có thái độ tiếp nhận. HS học xếp loại lực yếu dễ đạt được điểm tối đa trong phần này. Nội dung thể hiện ở việc quan sát và nhớ lại thông tin, nhận biết được thời gian, địa điểm và sự kiện, nhận biết được các ý chính, nắm được chủ đề nội dung. Động từ mô tả yêu cầu cần đạt ở cấp độ 1 có thể quy về nhóm động từ: nhận biết được, nêu được, phát biểu được, viết được, liệt kê được, thuật lại được, nhận dạng được, chỉ ra được, - Cấp độ 2 (Thông hiểu): Đó là những câu hỏi yêu cầu về kiến thức đạt ở mức độ thông hiểu hoặc câu hỏi yêu cầu về kỹ năng đạt được ở mức độ làm được chính xác một việc đã học, có thái độ đúng mực. HS xếp loại học lực trung bình dễ đạt được điểm tối đa trong phần này. Nội dung thể hiện ở việc thông hiểu thông tin, nắm bắt được ý nghĩa, chuyển tải kiến thức từ dạng này sang dạng khác, diễn giải các dữ liệu, so sánh, đối chiếu tương phản, sắp xếp thứ tự, sắp xếp theo nhóm, suy diễn các nguyên nhân, dự đoán các hệ quả. Động từ mô tả yêu cầu cần đạt ở cấp độ 2 có thể quy về nhóm động từ: hiểu được, trình bày được, mô tả được, diễn giải được, - Cấp độ 3 (Vận dụng):  Vận dụng thấp: Đó là những câu hỏi yêu cầu về kiến thức đạt ở mức độ vận dụng cơ bản, những câu hỏi yêu cầu giải quyết vấn đề bằng những kiến thức, kỹ năng đã học đòi hỏi đến sự tư duy lôgic, phê phán, phân tích, tổng hợp, có thái độ tin tưởng. HS xếp loại học lực khá dễ đạt được điểm tối đa trong phần này. Nội dung thể hiện ở việc sử dụng thông tin, vận dụng các phương pháp, khái niệm và lý thuyết đã học trong những tình huống khác, giải quyết vấn đề bằng những kỹ năng hoặc kiến thức đã học. Động từ mô tả yêu cầu cần đạt ở cấp độ 3 có thể quy về nhóm động từ: vận dụng được, giải thích được, giải được bài tập, làm được Vận dụng cao: Đó là những câu hỏi về kiến thức đạt ở mức độ vận dụng nâng cao, những câu hỏi yêu cầu giải quyết vấn đề bằng những kiến thức, kỹ năng đã học và vốn hiểu biết của bản thân HS đòi hỏi đến sự tư duy lôgic, phê phán, phân tích, tổng hợp và có dấu hiệu của sự sáng tạo, có thái độ tin tưởng. HS xếp loại học lực giỏi dễ đạt được điểm tối đa trong phần này. Nội dung thể hiện ở việc phân tích nhận ra các xu hướng, cấu trúc, những ẩn ý, các bộ phận cấu thành, thể hiện ở việc sử dụng những gì đã học để tạo ra nhữg cái mới, khái quát hóa từ các dữ kiện đã biết, liên hệ những điều đã học từ nhiều lĩnh vực khác nhau, dự đoán, rút ra các kết luận, thể hiện ở việc so sánh và phân biệt các kiến thức đã học, đánh giá giá trị của các học thuyết, các luận điểm, đưa ra quan điểm lựa chọn trên cơ sở lập luận hợp lý, xác minh giá trị của chứng cứ, nhận ra tính chủ quan, có dấu hiệu của sự sáng tạo. Động từ mô tả yêu cầu cần đạt ở cấp độ vận dụng cao có thể quy về nhóm động từ: phân tích được, so sánh được, giải thích được, giải được bài tập, suy luận được, thiết kế được Sự phân loại các cấp độ là tương đối, phụ thuộc vào đặc trưng của từng môn học và đối tượng HS. Đó là các mức độ yêu cầu về kiến thức, kỹ năng cần đạt của chương trình GDPT. Chú ý: Những câu hỏi liên quan đến các kiến thức về lý thuyết thường ở cấp độ 1, cấp độ 2. Những câu hỏi liên quan đến bài tập, thực hành thường ở cấp độ 3. Những câu hỏi, bài tập ở cấp độ vận dụng cao thường liên quan đến sự vận dụng nhiều kiến thức, kỹ năng tổng hợp trong phạm vi kiểm tra chẳng hạn như những câu hỏi cần vận dụng các mức cao của tư duy để xử lí tình huống, giải quyết vấn đề, những câu hỏi vận dụng các kiến thức, kỹ năng đã học vào thực tiễn như các kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng thực hành, kỹ năng giải thích các sự vật hiện tượng cũng như ứng dụng trong thế giới tự nhiên, những câu hỏi liên quan đến các vấn đề bảo vệ môi trường, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, ứng phó với sự biến đổi khí hậu và giảm thiểu thiên tai (tùy theo môn học) Bước 2: Xây dựng nội dung ma trận cho đề kiểm tra - Tổ chuyên môn (hoặc người ra đề) căn cứ vào sự mô tả yêu cầu nội dung cần kiểm tra theo chuẩn kiến thức, kỹ năng trong phạm vi cần kiểm tra trong chương trình GDPT ở bước 1 để đưa vào ma trận. - Căn cứ vào mục tiêu kiểm tra, đối tượng HS và tỉ lệ lượng kiến thức, kỹ năng ở các cấp độ để quyết định điểm số và số câu kiểm tra cho mỗi cấp độ sao cho đảm bảo phân hóa được các đối tượng HS trong quá trình đánh giá. GV có thể sử dụng nhiều thang điểm (chẳng hạn thang 100 điểm, thang 50 điểm,), nhưng khi chấm xong bài kiểm tra được quy đổi ra thang 10 điểm theo nguyên tắc làm tròn qui định trong quy chế. - Căn cứ vào điểm số, thời gian kiểm tra để quyết định số lượng chuẩn KTKN cần kiểm tra cho mỗi cấp độ. Số lượng chuẩn KTKN và thời gian phụ thuộc vào đối tượng HS và chất lượng câu hỏi. - Mỗi một phương án kiểm tra (chẳng hạn như tự luận, trắc nghiệm khách quan, hay phối hợp tự luận với trắc nghiệm khách quan) thì xây dựng một khung ma trận đề kiểm tra. * Lưu ý: Trường THCS Mường Thải quy định: - Các đề kiểm tra 15 phút và 1 tiết ra đề theo hình thức kết hợp giữa trắc nghiệm khách quan và tự luận.Trong đó câu hỏi tự luận chiếm từ 65->70% tổng số điểm và thời gian, còn lại dành cho trắc nghiệm khách quan. Kiểm tra học kỳ các môn, bài kiểm tra môn thể dục, âm nhạc, phân môn tập làm văn phần viết bài theo hình thức tự luận. -  Tất cả các bài kiểm tra từ 1 tiết trở lên (cả tự luận và kết hợp giữa trắc nghiệm và tự luận) đều phải có ma trận hai chiều thể hiện rõ các mức độ cần đánh giá theo 3 mức: nhận biết, thông hiểu, vận dụng. Trong đó, tỷ lệ điểm và thời gian cho câu hỏi nhận biết và thông hiểu là 65 -> 70%, còn lại là vận dụng.  Bước 3: Ra đề kiểm tra theo khung ma trận kiến thức, kỹ năng – Ở bước này GV, tổ chuyên môn (người ra đề) cần căn cứ vào yêu cầu cần đạt của nội dung kiểm tra để biên soạn câu hỏi. Số lượng câu hỏi ở mỗi cấp độ phải đảm bảo phủ kín kiến thức, kỹ năng cần kiểm tra. Lựa chọn những kiến thức, kỹ năng căn cứ vào chuẩn kiến thức kỹ năng của môn học, tăng số câu hỏi cho phần nội dung học có nhiều tiết học và các nội dung quan trọng trong chương trình.   Tùy theo đặc trưng của môn học mà tổ chức biên soạn câu hỏi dạng tự luận hay trắc nghiệm. GV cần căn cứ vào lượng kiến thức, kỹ năng trong câu hỏi, mức độ tư duy cũng như độ khó của câu hỏi (so với HS trung bình) để xác định thời gian thực hiện trung bình của câu hỏi. Khi ra đề cần tránh kiểm tra quá nhiều nội dung trong một thời lượng quá ít. - Biên soạn và hoàn thiện đề kiểm tra về thể thức cũng như nội dung. Bước 4: Xây dựng đáp án và biểu điểm cho đề kiểm tra - Căn cứ vào đề kiểm tra và ma trận đề kiểm tra để xây dựng đáp án và biểu điểm. Tùy theo dạng đề và loại hình mà quy định điểm cho mỗi câu hỏi. Đối với câu tự luận, căn cứ vào chuẩn kiến thức, kỹ năng cần kiểm tra để chia thành các ý cho thích hợp. - Thang điểm là 10 điểm cho toàn bài, mỗi ý hoặc câu hỏi có thể có giá trị điểm nhỏ nhất là 0,25 điểm. Có thể có thang điểm khác nhưng khi chấm xong đều phải qui đổi ra thang 10 điểm. - Cần chú ý đến nguyên tắc làm tròn số khi cho điểm toàn bài. Thang đánh giá gồm 11 bậc: 0, 1, 2, , 10 điểm (có thể có điểm thập phân được làm tròn tới một chữ số sau dấu phẩy) theo quy chế của Bộ GDĐT (QĐ 40/2006/BGDĐT ngày 05/10/2006). Bước 5: Thẩm định và niêm phong đề kiểm tra, đáp án - Tùy theo tính chất và mục tiêu kiểm tra mà có tổ chức đọc rà soát hoặc thẩm định đề kiểm tra, đáp án. - Hoàn thiện, niêm phong và bảo quản đề kiểm tra, đáp án. Việc đọc phản biện, thẩm định, niêm phong, bảo quản đề kiểm tra phải tuân theo các qui định hiện hành về thi cử.

File đính kèm:

  • docTai lieu day GDCD 9.doc